1. Một số khái niệm
- Khái niệm độc lập
Theo Từ điển Tiếng Việt, “độc lập” có nghĩa là tự mình tồn tại, hoạt động không nương tựa hoặc phụ thuộc vào bất kì ai hay vào cái gì khác. Như vậy, có thể hiểu khái quát, nguyên tắc này đề cao tính tự chủ, tự quyết định của những người nằm trong hội đồng xét xử một phiên tòa khi họ đưa ra phán quyết cuối cùng, tuyên một người là có tội hay vô tội.
- Khái niệm chỉ tuân theo pháp luật
Hiểu một cách cơ bản, “chỉ tuân theo pháp luật” có nghĩa là mọi hoạt động của hội đồng xét xử tại phiên tòa chỉ dựa trên một căn cứ duy nhất là những quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến trình tự thủ tục, nội dung, cách thức giải quyết vụ án. Ngoài ra, hội đồng xét xử không được tự minh dựa vào các căn cứ nào khác mà chưa được luật ghi nhận, cho phép làm.
2. Cơ sở pháp lý của nguyên tắc
Nguyên tắc “Thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” được ghi nhận tại khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 và Điều 23 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015:
“Điều 23. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.”
3. Nội dung nguyên tắc
Thẩm phán, hội thẩm nhân dân xét xử độc lập với các cơ quan nhà nước khác.
Tòa án là cơ quan xét xử thực hiện quyền tư pháp, trước và trong phiên tòa, hội đồng xét xử làm việc cần có sự độc lập với các cơ quan nhà nước ở nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp cũng như các cơ quan khác trong hệ thống tư pháp. Hội đồng xét xử không bị phụ thuộc vào quan điểm cuả các cơ quan này, không bị ảnh hưởng chi phối một cách tiêu cực để làm sai trái với sự thật khách quan của vụ án. Các cơ quan quản lí theo đó, không được can thiệp vào việc xét xử của thẩm phán, hội thẩm, vì công tác xét xử đã được Nhà nước giao cho tòa án. Tòa án không lệ thuộc hoàn toàn vào ý kiến của cơ quan điều tra, viện kiểm sát. Nếu qua phiên tòa, cảm thấy cần thiết, hội đồng xét xử có thể xử lí vụ việc khác với bản kết luận, cáo trạng của các cơ quan nói trên theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo tính chính xác, công minh. Trong hệ thống tòa án từ trung ương đến địa phương, tòa án cấp trên hướng dẫn tòa cấp dưới về việc áp dụng thống nhất pháp luật, đường lối xét xử nhưng không quyết đinh trước về cách thức, kết quả xét xử một vụ án cụ thể buộc tòa cấp dưới phải làm theo. Tóm lại, thẩm phán, hội thẩm không bị phụ thuộc vào kết luận của cơ quan điều tra, không bị lệ thuộc vào cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, không phụ thuộc vào ý kiến của các cơ quan khác hay của Tòa án cấp trên.Có như vậy thì tính độc lập, đúng đắn, hiệu quả mới được đảm bảo trong hoạt động xét xử của thẩm phán, hội thẩm tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử độc lập với các tổ chức, cá nhân tham gia tố tụng.
Trong nhiều vụ án hình sự, số lượng người tham gia tố tụng lớn với thành phần xã hội phức tạp, hội đồng xét xử cần thiết phải có sự độc lập với các chủ thể này. Thẩm phán, hội thẩm nhân dân không bị chi phối, can thiệp, điều khiển ý chí từ bất kì ai. Họ phải độc lập với yêu cầu của bị cáo, bị hại, người bào chữa cũng như những thành viên tham gia tố tụng khác. Bởi giữa những người này đang tồn tại mâu thuẫn về quyền, lợi ích hợp pháp mà hội đồng xét xử chính là người “cầm cân nảy mực”, đảm bảo công bằng được thực thi cho nên họ không thể bị ảnh hưởng, nghiêng về phía nào được. Đặc biệt, với tư cách là những người có chuyên môn trình độ cao về pháp luật, được tín nhiệm giao phó sứ mệnh bảo vệ công lí lẽ phải, thẩm phán, hội thẩm không được vì bất kì mối quan hệ cá nhân riêng tư nào chi phối đến quá trình giải quyết vụ án. Khi ở vị trí trung tâm, quan trọng nhất tại phiên tòa, hội đồng xét xử phải trút bỏ hết những lời nhờ cậy, sự cả nể thậm chí là dọa dẫm từ các thế lực khác xung quanh mà chỉ tuân theo diễn biến hồ sơ vụ án và quy định của pháp luật để nhanh chóng tìm ra được câu trả lời chính xác, đúng đắn, hợp tình hợp lí nhất cho mọi người về vụ việc.
Cá nhân các thẩm phán, hội thẩm độc lập với nhau trong xét xử vụ án hình sự.
Các thành viên trong hội đồng xét xử độc lập trong suy nghĩ khi làm việc tập thể và quyết định theo đa số. Nghĩa là, mỗi ý kiến đưa ra quyết định cuối cùng của thẩm phán, hội thẩm là có giá trị ngang nhau. Thẩm phán và Hội thẩm độc lập từ việc nhận định vụ án, diễn giải pháp luật, quyết định áp dụng pháp luật và ra bản án. Khi xét xử, Thẩm phán độc lập với Hội thẩm trong việc xem xét và đánh giá chứng cứ để đưa ra các kết luận của mình mà không lệ thuộc vào quan điểm, chính kiến của các thành viên khác trong Hội đồng xét xử. Đối với Hội thẩm, không một yêu cầu hay đề nghị nào của những người khác có thể làm ảnh hưởng tới việc Hội thẩm áp dụng đúng pháp luật, theo đúng nội dung và tinh thần của điều luật đối với các tình tiết của vụ án cụ thể. Về nguyên tắc, Thẩm phán không được áp đặt ý kiến đối với Hội thẩm khi xét xử. Chỉ có thành viên Hội đồng xét xử mới được tham gia nghị án, khi nghị án, Hội thẩm biểu quyết trước, Thẩm phán là người biểu quyết sau cùng. Các vấn đề của vụ án đều phải được giải quyết bằng biểu quyết và quyết định theo đa số. Các cá nhân, cơ quan, tổ chức không được can thiệp, tác động tới các thành viên của Hội đồng xét xử để buộc họ phải xét xử theo ý chí của mình. Mọi hành vi can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án đều bị coi là vi phạm pháp luật và ảnh hưởng tới tính khách quan của hoạt động xét xử.
Thẩm phán, hội thẩm có sự độc lập tương đối với truyền thông và dư luận xã hội.
Trong quá trình xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm có thể tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn, nắm bắt dư luận xã hội nhưng khi ra quyết định về vụ án, Thẩm phán và Hội thẩm phải thể hiện bản lĩnh nghề nghiệp của mình, xem xét các vấn đề của vụ án một cách độc lập, khách quan, không bị ảnh hưởng, bị ràng buộc bởi các quan điểm, ý kiến bên ngoài của vụ án. Hội đồng xét xử phải xem xét, thẩm tra, đánh giá chứng cứ và các tình tiết khác của vụ án một cách thận trọng, khoa học, toàn diện các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa. Quyết định của Tòa án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Có thể thấy, đối với nhiều vụ án lớn, nổi cộm, thu hút sự quan tâm đông đảo của người dân thì sức ép của dư luận xã hội, báo chí đối với hội đồng xét xử là rất lớn. Có nhiều ý kiến trái chiều được đưa ra, người dân luôn trong trạng thái mong muốn người đã vi phạm pháp luật phải bị “trừng trị” thích đáng khiến cho các vị thẩm phán , hội thẩm ít nhiều phải cân nhắc khi đưa ra phán quyết cuối cùng. Tuy nhiên, dư luận xã hội không thể là yếu tố chi phối quá sâu sắc, làm ảnh hưởng đến tính công minh, đúng đắn trong hoạt động giải quyết vụ án của những cá nhân, tổ chức có thẩm quyền.
Hội đồng xét xử “chỉ tuân theo pháp luật” để giải quyết vụ án hình sự.
Khi nghiên cứu hồ sơ, quá trình xét xử tại phiên tòa và khi nghị án, Thẩm phán và Hội thẩm phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án, không được tùy tiện, áp đặt ý chí chủ quan trong việc áp dụng pháp luật. Khi thực hiện hoạt động xét xử, hoạt động gắn liền với việc củng cố pháp chế và trật tự pháp luật thì Thẩm phán và Hội thẩm càng phải nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật. Khi xét xử các vụ án hình sự, pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự là những chuẩn mực, căn cứ để Thẩm phán và Hội thẩm xem xét, đối chiếu với sự việc xảy ra, với hành vi khách quan của người bị buộc tội. Và trên cơ sở các quy định đó, hội đồng xét xử đưa ra các phán quyết về hành vi phạm tội của bị cáo, về tội danh và hình phạt được áp dụng đối với bị cáo một cách khách quan, chính xác phù hợp diễn biến thực tế của vụ án. Nghĩa là, từng bước của quá trình xét xử vụ án phải dựa trên bản lề chuẩn duy nhất là quy định pháp luật có liên quan, điều chỉnh trực tiếp vụ việc đó.
4. Ý nghĩa của nguyên tắc
Nguyên tắc “Thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” cùng với các nguyên tắc cơ bản khác của luật tố tụng hình sự góp phần vào việc đảm bảo cho quá trình tiến hành tố tụng được thực hiện một cách hiệu quả nhất. Nguyên tắc này là căn cứ giúp cho tòa án làm tốt các chức năng xét xử của mình theo quy định của pháp luật, đồng thời đề cao trách nhiệm của thẩm phán và hội thẩm. Nó khẳng định “độc lập” và “chỉ tuân theo pháp luật” là hai yếu tố quan trọng, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Độc lập là điều kiện cần thiết để thẩm phán và hội thẩm khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật. Ngược lại, tuân theo pháp luật lại là cơ sở không thể thiếu để đảm bảo tính độc lập tại phiên tòa. Mối quan hệ này là ràng buộc, nếu chỉ độc lập mà không tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng hình sự thì dễ dẫn đến tình trạng xét xử tùy tiện, độc đoán.
Nguyên tắc này không chỉ xác định độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là yếu tố cơ bản điều chỉnh hoạt động của hội đồng xét xử mà còn thể hiện rõ nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tuyệt đối tôn trọng hoạt động này. Mọi hành vi can thiệp, gây ảnh hưởng tới việc xét xử công khai, đúng đắn, hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân dưới bất kì hình thức nào, tùy tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lí kỉ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật. Đây là nội dung mới được đưa vào nguyên tắc, thể hiện rõ quan điểm của nhà nước ta trong việc nâng cao tính độc lập của tòa án. Nó góp phần không nhỏ để nâng cao hiệu quả xét xử, hạn chế đến mức tối đa các trường hợp án oan sai, “án bỏ túi”, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan. Bởi chỉ khi chủ thể có quyền đưa ra phán quyết cuối cùng trong vụ án thật sự độc lập, công minh, làm việc đúng với nội dung, trình tự thủ tục do pháp luật quy định thì mới đảm bảo bản án ấy là đúng người đúng tội.
5. Thực tiễn thực hiện nguyên tắc, một số hạn chế còn tồn tại
Nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và tuân theo pháp luật” là nguyên tắc quan trọng được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật. Thời gian qua việc thực hiện nguyên tắc này đã đạt được kết quả nhất định. Có thể thấy, hội đồng xét xử trong các vụ án hình sự đã đảm bảo khá tốt tính độc lập, tuân thủ pháp luật trong việc xét xử của mình. Thẩm phán, hội thẩm dù chịu nhiều áp lực từ một số tổ chức, cá nhân hay báo chí, dư luận xã hội nhưng vẫn kiên định, công minh, giải quyết vụ việc đúng đắn, hợp tình hợp lý. Pháp luật luôn được đề cao, là cơ sở duy nhất, quan trọng để thẩm phán, hội thẩm tuân theo. Tuy nhiên, cũng vẫn còn nhiều hạn chế trong cơ chế đảm bảo tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm mà khi nghiên cứu, chúng ta có thể nhận thấy rõ.
Thứ nhất, vị trí, vai trò của hội thẩm nhân dân trong cơ cấu hội đồng xét xử chưa thực sự có hiệu quả.
Hội thẩm có vị trí, vai trò quan trọng đảm bảo tính dân chủ, khách quan của hoạt động xét xử, góp phần giúp việc xét xử của Tòa án diễn ra công bằng, chính xác, khách quan. Cùng với Thẩm phán, Hội thẩm là những thành viên không thể thiếu được trong hoạt động xét xử của mỗi vụ án. Tuy nhiên, trên thực tế các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của Hội thẩm, cơ chế bầu, cử Hội thẩm và thực trạng hoạt động của Hội thẩm còn nhiều vấn đề vướng mắc, bất cập khiến việc Hội thẩm tham gia hoạt động xét xử của Tòa án còn mang tính hình thức, vẫn chưa phát huy được hết vị trí, vai trò quan trọng mà Hiến pháp và pháp luật đã quy định. Qua công tác xét xử cho thấy, Hội thẩm chưa phát huy được hết quyền năng của mình, có những Hội thẩm chỉ đến nghiên cứu kết luận điều tra, bản cáo trạng hoặc có trường hợp không nghiên cứu hồ sơ nhưng vẫn tiến hành hoạt động xét xử tại Tòa án, vì vậy, Hội thẩm sẽ rơi vào tình trạng lệ thuộc, thiếu chủ động trong quá trình chứng minh tội phạm cũng như quyết định việc giải quyết vụ án, khiến cho công chúng nhìn nhận về sự tham gia của Hội thẩm chỉ là hình thức, tham gia cho đủ thành phần. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc có trách nhiệm chuẩn bị nhân sự, hiệp thương lập danh sách Hội thẩm để Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra Hội thẩm. Trong khi đó, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc hầu như rất ít thực hiện giám sát hoạt động của Hội thẩm do mình giới thiệu hoặc bầu ra. Tòa án chỉ quản lý Hội thẩm trong thời gian họ nghiên cứu hồ sơ và tham gia xét xử. Hiện nay, mặc dù các địa phương có thành lập Đoàn Hội thẩm, nhưng là tổ chức hoạt động theo nguyên tắc tự quản. Ngoài thời gian tham gia hoạt động xét xử, Hội thẩm sinh hoạt tại cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc hoặc địa phương nơi họ sinh sống, nên đối với một số vụ án có tính chất nhạy cảm dễ bị tác động, sức ép và dễ phát sinh tiêu cực.
Thứ hai, hiện tượng can thiệp của chính quyền địa phương, của Chánh án Tòa án, của tổ chức Đảng vào hoạt động xét xử.
Vẫn tồn tại tình trạng Tòa án cấp trên quản lý Tòa án cấp dưới cả về tổ chức, tài chính và chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ. Tình trạng can thiệp từ phía lãnh đạo Tòa án vào hoạt động xét xử, trong một số trường hợp đã can thiệp sâu vào công việc xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm hoặc cũng có trường hợp vì lợi ích cá nhân mà Chánh án chỉ thị, định hướng cho Hội đồng xét xử. Việc thẩm phán tham khảo ý kiến của lãnh đạo Toà án còn cao. Vấn đề trao đổi ý kiến lãnh đạo về “đường lối giải quyết vụ án” vẫn chiếm một tỷ lệ lớn. Mặ dù tòa án nhân dân tối cao đã có yêu cầu nghiêm cấm sự can thiệp vào hoạt động xét xử, nhưng trên thực tế không ít Tòa án địa phương vẫn còn tồn tại cơ chế này. Tình trạng “báo cáo án”, “thỉnh thị án” đã phá vỡ nhiều nguyên tắc quản lý và nguyên tắc tư pháp trong hoạt động tòa án, như “nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập”, “nguyên tắc xét xử tập thể”, làm cho những nguyên tắc này trở nên hình thức và không được tôn trọng, làm giảm vai trò của Hội thẩm, phá vỡ nguyên tắc tính đại diện của nhân dân trong xét xử. Thẩm phán, Hội thẩm đôi khi còn chịu áp lực của công luận khi đăng tải nhiều bài viết về một vụ án chưa xét xử; chịu ảnh hưởng và tác động của bản kết luận điều tra hoặc cáo trạng khi nghiên cứu hồ sơ nên có thể không độc lập trong quá trình xem xét và đánh giá chứng cứ.
Thứ ba, không ít Thẩm phán và Hội thẩm còn lệ thuộc vào kết quả điều tra, những thông tin, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Trong nhiều trường hợp, Hội đồng xét xử tin vào kết quả điều tra có trong hồ sơ vụ án mà không coi trọng tới những ý kiến trình bày tại phiên tòa, chưa thực sự coi trọng nguyên tắc tranh tụng mà vẫn nặng về thẩm vấn, xét hỏi, tạo ra sự bất bình đẳng giữa các bên tham gia tố tụng. Do đó, phán quyết của Hội đồng xét xử còn mang tính áp đặt, còn tình trạng xét xử oan sai, trái pháp luật; bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới bị Tòa án cấp trên hủy, sửa nhiều.
Thứ tư, chất lượng thẩm phán chưa thực sự được đảm bảo.
Quy trình tuyển chọn Thẩm phán còn nhiều bất cập, việc tuyển chọn Thẩm phán không được pháp luật quy định phải công bố công khai, rộng rãi nên không tạo được tính cạnh tranh. Thực tế việc tuyển chọn Thẩm phán cơ bản là quy trình khép kín trong nội bộ ngành Tòa án, chưa có cơ chế khuyến khích những người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện đăng ký dự thi hoặc tuyển chọn làm Thẩm phán, vì thế không thu hút được người tài, giỏi. Hiện tại, bên cạnh những Thẩm phán được đào tạo bài bản, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, có bề dày kinh nghiệm và kỹ năng xét xử, vẫn còn không ít Thẩm phán hạn chế về năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, không có bản lĩnh chính trị vững vàng, thiếu tự tin, sợ trách nhiệm, không tự quyết định được các tình huống khi xét xử. Đây cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng tới nguyên tắc xét xử độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm.
Thứ năm, chế độ tiền lương của Thẩm phán và chế độ, chính sách đối với Hội thẩm chưa hợp lý. Mức lương của Thẩm phán ở nước ta hiện nay là rất khiêm tốn, không đảm bảo được mức sống tối thiểu của bản thân và gia đình họ. Điều này sẽ làm cho Thẩm phán không yên tâm công tác, dễ bị những tác động, cám dỗ hoặc tham nhũng khi tham gia hoạt động tố tụng. Đối với Hội thẩm, ngoài chế độ về trang phục, Hội thẩm chỉ có chế độ bồi dưỡng phiên tòa với mức rất thấp, không đáng kể để nghiên cứu hồ sơ hoặc xét xử. Pháp luật cũng chưa quy định các biện pháp bảo vệ Thẩm phán, Hội thẩm và gia đình họ trong những trường hợp cần thiết. Thực tế đã có nhiều trường hợp Thẩm phán, Hội thẩm bị các đối tượng đe dọa, trả thù, thậm chí những người thân của họ cũng bị đe dọa, trả thù, vì vậy, cần phải có những quy định về bảo vệ đối với tính mạng, tài sản của Thẩm phán, Hội thẩm và gia đình họ ngoài thời gian tham gia xét xử để họ yên tâm thực hiện nhiệm vụ xét xử của mình, đặc biệt là xét xử những vụ án lớn, vụ án có bị cáo là đối tượng nguy hiểm.