1. Như thế nào là làm thêm ngoài giờ?

Thời giờ làm việc được xác định là khoảng thời gian quy định theo luật hoặc thỏa thuận giữa các bên. Trong khoảng thời gian này, người lao động cần phải có mặt tại địa điểm cố định để thực hiện các công việc và nhiệm vụ được giao, phù hợp với thoả thuận trong hợp đồng lao động và quy định pháp luật. Theo Bộ luật lao động hiện hành, thời giờ làm việc được phân chia thành thời giờ làm việc bình thường và làm thêm giờ.

Làm thêm giờ là thời gian làm việc ngoài giờ làm việc bình thường, được quy định trong pháp luật, thoả ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động. Khi người sử dụng lao động bố trí và sắp xếp người lao động làm thêm giờ, họ phải đảm bảo tuân thủ các điều kiện của pháp luật lao động. Điều này bao gồm sự đồng ý của người lao động, việc bảo đảm số giờ làm thêm tối đa trong một ngày, một tháng, và một năm.

Việc bảo đảm thời giờ làm việc nói chung, và làm thêm giờ nói riêng, có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe của người lao động và ngăn chặn sự lạm dụng từ phía người sử dụng lao động. Nó cũng đóng góp vào việc tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tái tạo năng lượng lao động trong quá trình làm việc. Mặc dù có ý nghĩa như vậy, thực tế cho thấy không phải ai cũng hiểu rõ về các quy định pháp luật liên quan đến làm thêm giờ, như thời gian làm thêm giờ và tiền lương làm thêm giờ, dẫn đến tình trạng vi phạm khá phổ biến.

 

2. Khi nào người lao động có thể từ chối làm thêm giờ theo quy định?

Theo quy định hiện hành, thời gian làm thêm giờ đề cập đến khoảng thời gian làm việc ngoài giờ làm việc bình thường, tuân theo quy định của pháp luật, thoả ước lao động tập thể, hoặc nội quy lao động.

Theo Khoản 2 Điều 107 của Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động được phép sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây:

- Phải có sự đồng ý của người lao động.

- Đảm bảo số giờ làm thêm của người lao động không vượt quá 50% số giờ làm việc bình thường trong một ngày; trong trường hợp áp dụng thời giờ làm việc bình thường theo tuần, tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong một ngày; không quá 40 giờ trong một tháng.

- Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không vượt quá 200 giờ trong một năm, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều này.

Do đó, người lao động có quyền từ chối làm thêm giờ. Tuy nhiên, có những trường hợp đặc biệt khi người lao động không có quyền từ chối làm thêm giờ, bao gồm:

- Thực hiện lệnh động viên, huy động bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật.

- Thực hiện các công việc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm và thảm họa, trừ trường hợp có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người lao động theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.

Do đó, để bảo vệ sức khỏe và quyền lợi của người lao động, cũng như để ngăn chặn bất kỳ hình thức lạm dụng và bóc lột sức lao động, luật lao động quy định rõ quyền của người lao động trong việc từ chối làm thêm giờ trong những tình huống sau đây:

- Trong trường hợp công việc làm thêm giờ được xác định thuộc nhóm công việc đặc biệt có khả năng gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của người lao động theo quy định, người lao động được phép từ chối tham gia vào các hoạt động làm thêm giờ trong những tình huống đặc biệt này.

- Đối với công việc làm thêm giờ không thuộc các trường hợp đặc biệt, người lao động có quyền từ chối mà không cần phải giải trình lý do cụ thể. Điều này đồng nghĩa với việc người lao động có quyền quyết định không tham gia vào làm thêm giờ dù bất kỳ lý do nào nếu không thuộc các trường hợp đặc biệt theo quy định.

 

3. Các trường hợp người sử dụng lao động không được yêu cầu người lao động làm thêm giờ

Có những nhóm đối tượng đặc biệt, những người yếu thế trong mối quan hệ lao động, cần được đặc biệt bảo vệ. Vì vậy, nếu người lao động thuộc một trong các đối tượng sau đây, họ sẽ được miễn làm thêm giờ:

- Những người lao động mang thai từ tháng thứ 07 trở đi hoặc những lao động nữ đang mang thai từ tháng thứ 06 trở đi, làm việc ở các vùng sâu, xa, cao, biên giới, hải đảo với mục đích bảo vệ và đảm bảo sức khỏe sinh sản theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 137 Bộ luật lao động năm 2019.

- Những người lao động, bao gồm cả nam và nữ, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi nếu không có sự đồng ý của họ.

- Những người lao động chưa đủ 15 tuổi theo quy định tại Khoản 1 Điều 146 Bộ luật lao động năm 2019.

- Những người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi chỉ có thể làm thêm giờ trong một số công việc, một số nghề thuộc danh mục được phép do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành.

- Những người lao động là người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nhẹ có mức suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên, hoặc người khuyết tật nặng, nếu không có sự đồng ý của họ, sẽ không được sử dụng làm thêm giờ.

 

4. Xử phạt người sử dụng lao động đối với các hành vi vi phạm về việc làm thêm giờ

- Trong trường hợp người sử dụng lao động không trả đủ hoặc không thực hiện việc trả tiền lương cho người lao động khi họ làm thêm giờ, theo quy định tại Khoản 2 Điều 16 Nghị định 28/2020/NĐ-CP, người sử dụng lao động sẽ bị xử phạt theo các mức sau đây:

  + Phạt tiền từ 5.000.000 đồng – 10.000.000 đồng nếu vi phạm đối với từ 01 đến 10 người lao động.

  + Phạt tiền từ 10.000.000 đồng – 20.000.000 đồng nếu vi phạm đối với từ 11 đến 50 người lao động.

  + Phạt tiền từ 20.000.000 đồng – 30.000.000 đồng nếu vi phạm đối với từ 51 đến 100 người lao động.

  + Phạt tiền từ 30.000.000 đồng – 40.000.000 đồng nếu vi phạm đối với từ 101 đến 300 người lao động.

  + Phạt tiền từ 40.000.000 đồng – 50.000.000 đồng nếu vi phạm đối với từ 301 người lao động trở lên.

- Ngoài ra, hành vi của người sử dụng lao động không thông báo bằng văn bản tới Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tại địa phương về việc người lao động làm thêm giờ khi tổng thời gian làm thêm giờ trong một năm từ trên 200 giờ đến dưới 300 giờ sẽ bị xử phạt tiền với mức từ 2.000.000 đồng – 5.000.000 đồng.

- Trường hợp người sử dụng lao động cho phép người lao động làm thêm giờ với tổng thời gian làm thêm vượt quá quy định của pháp luật hoặc huy động lao động làm thêm giờ vào các ngày nghỉ lễ, nghỉ tết, và các ngày nghỉ hằng tuần với tổng thời gian làm việc trong một ngày vượt quá 12 giờ, mức xử phạt được quy định như sau:

  + Phạt tiền từ 5.000.000 đồng – 10.000.000 đồng nếu vi phạm đối với từ 01 người -10 người lao động.

  + Phạt tiền từ 10.000.000 đồng – 20.000.000 đồng nếu vi phạm đối với từ 11 người – 50 người lao động.

  + Phạt tiền từ 20.000.000 đồng – 40.000.000 đồng nếu vi phạm đối với từ 51 người – 100 người lao động.

  + Phạt tiền từ 40.000.000 đồng – 60.000.000 đồng nếu vi phạm đối với từ 101 người – 300 người lao động.

  + Phạt tiền từ 60.000.000 đồng – 75.000.000 đồng nếu vi phạm đối với từ 301 người lao động trở lên.

- Hành vi cho người dưới 15 tuổi hoặc từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi làm thêm giờ mà không thuộc các ngành nghề, công việc được pháp luật cho phép sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng – 15.000.000 đồng.

- Nếu người sử dụng lao động vi phạm bằng cách để người lao động nữ mang thai từ tháng thứ 07 trở đi hoặc mang thai từ tháng thứ 06 làm thêm giờ tại các vùng sâu, xa, cao, biên giới, hải đảo hoặc sử dụng người lao động đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi làm thêm giờ, mức xử phạt sẽ là từ 10.000.000 đồng – 20.000.000 đồng.

- Nếu người sử dụng lao động sắp xếp người lao động làm thêm giờ mà không thuộc các trường hợp đặc biệt mà không có sự đồng ý của người lao động, mức xử phạt sẽ là từ 20.000.000 đồng – 25.000.000 đồng.

Bài viết liên quan: Mức lương tăng ca, làm thêm giờ theo Bộ luật lao động mới?

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng thông qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!