1. Hội đồng an toàn, vệ sinh lao động cơ sở là gì?
Theo quy định của Điều 75 Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 ngày 25/06/2015, Khoản 2 và Khoản 3 xác định rõ những nhiệm vụ của Hội đồng An toàn, Vệ sinh lao động tại cơ sở lao động. Hội đồng này chịu trách nhiệm hỗ trợ người sử dụng lao động và người lao động trong việc thực hiện các hoạt động an toàn, vệ sinh lao động.
Cụ thể, Hội đồng có trách nhiệm xây dựng quy định về an toàn, vệ sinh lao động, tổ chức đối thoại giữa người lao động và người sử dụng lao động về các vấn đề liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động. Họ cũng kiểm tra tình hình thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động tại cơ sở làm việc, đặc biệt tại các bộ phận có trách nhiệm đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động. Hơn nữa, Hội đồng yêu cầu người sử dụng lao động áp dụng biện pháp xử lý các vấn đề cấp thiết liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động tại cơ sở.
Hội đồng An toàn, Vệ sinh lao động được hình thành từ nhiều thành phần khác nhau, bao gồm Đại diện người sử dụng lao động (Chủ tịch Hội đồng), Đại diện Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc tập thể người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn (Phó Chủ tịch Hội đồng), người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động tại cơ sở sản xuất, kinh doanh (Ủy viên thường trực kiêm thư ký Hội đồng), và người làm công tác y tế ở cơ sở sản xuất, kinh doanh, cùng các thành viên khác theo chỉ định của Chủ tịch Hội đồng. Tất cả các thành viên này chịu trách nhiệm liên quan đến quản lý, giám sát, và đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động tại cơ sở, tạo nên một tập thể có mối liên kết mật thiết trong hoạt động đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.
2. Trường hợp nào phải thành lập Hội đồng an toàn vệ sinh lao động cơ sở?
Theo quy định của Điều 38 trong Nghị định số 39/2016/NĐ-CP ban hành ngày 15/05/2016 của Chính phủ, việc tổ chức Hội đồng An toàn, Vệ sinh lao động tùy thuộc vào lĩnh vực hoạt động của cơ sở sản xuất, kinh doanh và số lượng người lao động làm việc tại cơ sở đó. Nói cách khác, Hội đồng An toàn, Vệ sinh lao động cơ sở sẽ được thành lập khi cơ sở sản xuất hoặc kinh doanh của người lao động rơi vào một trong các trường hợp sau đây:
(1) Các cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động trong các lĩnh vực như khai khoáng, sản xuất than cốc, sản xuất sản phẩm dầu mỏ tinh chế, sản xuất hóa chất, sản xuất kim loại và các sản phẩm từ kim loại, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim, thi công công trình xây dựng, đóng và sửa chữa tàu biển, sản xuất, truyền tải và phân phối điện và có quy mô sử dụng lao động từ 300 người trở lên, đều thuộc vào loại cơ sở sản xuất, kinh doanh mà điều kiện lao động mang theo nhiều yếu tố nguy hiểm và có hại. Với sự rủi ro và khả năng khắc phục thấp, các cơ sở này yêu cầu sự chú ý đặc biệt đối với an toàn và vệ sinh lao động.
Do đó, để đảm bảo an toàn và vệ sinh lao động tại các cơ sở này, việc bố trí người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động có trình độ chuyên môn cao hơn hoặc số lượng lớn hơn so với cơ sở sản xuất thông thường là cần thiết. Các hoạt động đảm bảo an toàn và vệ sinh lao động tại đây cần được triển khai một cách nghiêm túc, kèm theo kế hoạch cụ thể và sự phối hợp chặt chẽ từ nhiều bên như người sử dụng lao động, công đoàn cơ sở, bộ phận an toàn, vệ sinh lao động, bộ phận y tế, an toàn, vệ sinh viên, và người lao động.
Vì quy mô sử dụng lao động của các cơ sở này đạt trên 300 người (được xem xét là quy mô sản xuất, kinh doanh ở tầm trung), theo quy định của Điều 38 Nghị định số 39/2016/NĐ-CP, đối với chúng, việc thành lập Hội đồng An toàn, Vệ sinh lao động là bắt buộc để phối hợp thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an toàn và vệ sinh lao động một cách chặt chẽ và có tổ chức.
(2) Các cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động trong các lĩnh vực và ngành nghề thông thường, không thuộc lĩnh vực khai khoáng, sản xuất than cốc, sản xuất sản phẩm dầu mỏ tinh chế, sản xuất hóa chất, sản xuất kim loại và các sản phẩm từ kim loại, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim, thi công công trình xây dựng, đóng và sửa chữa tàu biển, sản xuất, truyền tải và phân phối điện, và có quy mô sử dụng lao động từ 1000 người trở lên đều được xem xét là cơ sở sản xuất, kinh doanh có điều kiện lao động ở mức trung bình, không gặp phải nhiều yếu tố nguy hiểm hay có hại trong môi trường làm việc của người lao động.
Tuy nhiên, với số lượng người lao động vượt quá con số 1000, tức là cơ sở có quy mô sản xuất và kinh doanh ở mức lớn, việc quản lý người lao động và đặc biệt là quản lý an toàn, vệ sinh lao động trở nên phức tạp hơn. Ví dụ, một cơ sở sản xuất với hơn 1000 người lao động sẽ có nhiều tổ, đội sản xuất khác nhau, dẫn đến sự đa dạng của các nhóm an toàn và vệ sinh viên trong hệ thống an toàn, vệ sinh lao động. Quản lý và giám sát các vấn đề liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động trong trường hợp này trở nên phức tạp hơn so với cơ sở sản xuất có quy mô lao động ở mức trung bình.
Vì vậy, trong trường hợp này, việc thành lập Hội đồng An toàn, Vệ sinh lao động là cần thiết để phối hợp quản lý và giám sát các vấn đề liên quan đến an toàn và vệ sinh lao động tại cơ sở một cách hiệu quả.
(3) Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước
Theo Điều 194, Khoản 1 của Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17/06/2020, các tập đoàn kinh tế và tổng công ty thuộc các thành phần kinh tế được xác định là nhóm công ty có mối quan hệ thông qua sở hữu cổ phần, phân vốn góp hoặc các liên kết khác. Với số lượng người lao động đồng đều lớn và bản chất phức tạp trong quản lý, cả tập đoàn kinh tế và tổng công ty Nhà nước đều đối mặt với thách thức lớn. Do đó, trong trường hợp này, việc thành lập Hội đồng An toàn, Vệ sinh lao động là bắt buộc.
Tuy nhiên, đối với các trường hợp khác không thuộc tập đoàn kinh tế hoặc tổng công ty, quyết định thành lập Hội đồng An toàn, Vệ sinh lao động không nhất thiết, nhưng nếu quyết định thành lập, cần đảm bảo tính cần thiết và đáp ứng đủ điều kiện để hoạt động hiệu quả của Hội đồng này.
3. Quy định về thành phần hội đồng an toàn, vệ sinh lao động cơ sở
Theo quy định của Điều 75, Khoản 3 trong Luật An toàn Vệ sinh lao động năm 2015, thành phần của Hội đồng An toàn, Vệ sinh lao động tại cơ sở bao gồm các đại diện sau đây:
- Chủ tịch Hội đồng là đại diện người sử dụng lao động.
- Phó Chủ tịch Hội đồng là đại diện của Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn.
- Thư ký Hội đồng là người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động tại cơ sở sản xuất, kinh doanh.
- Người làm công tác y tế tại cơ sở sản xuất, kinh doanh.
- Các thành viên khác có liên quan.
Ngoài ra, thành phần của Hội đồng An toàn, Vệ sinh lao động tại cơ sở cần đảm bảo tỷ lệ thành viên nữ tham gia phù hợp với nguyên tắc bình đẳng giới, và điều này phải được điều chỉnh sao cho phản ánh đúng điều kiện thực tế tại cơ sở sản xuất, kinh doanh.
4. Nhiệm vụ và quyền hạn của hội đồng an toàn, vệ sinh lao động cơ sở là gì?
Theo Điều 75, Khoản 2 của Luật An toàn Vệ sinh lao động năm 2015, Hội đồng An toàn, Vệ sinh lao động tại cơ sở được quyền hạn và có nhiệm vụ sau đây:
- Tư vấn, phối hợp với người sử dụng lao động trong việc xây dựng nội quy, quy trình, kế hoạch và các biện pháp để đảm bảo an toàn và vệ sinh lao động tại cơ sở sản xuất, kinh doanh.
- Hàng năm, tổ chức đối thoại tại nơi làm việc giữa người lao động và người sử dụng lao động nhằm chia sẻ thông tin, tăng cường sự hiểu biết, và thúc đẩy cải thiện các điều kiện làm việc công bằng, an toàn cho người lao động; đồng thời, nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách và pháp luật về an toàn và vệ sinh lao động tại cơ sở sản xuất, kinh doanh.
- Tổ chức kiểm tra tình hình thực hiện công tác an toàn và vệ sinh lao động tại cơ sở sản xuất, kinh doanh.
- Yêu cầu người sử dụng lao động thực hiện các biện pháp xử lý và khắc phục mọi nguy cơ mất an toàn và vệ sinh lao động khi phát hiện.
Bài viết liên quan: Thẩm quyền thành lập Hội đồng an toàn vệ sinh lao động cấp tỉnh?
Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!