Khách hàng: Thưa luật sư! Tôi là giáo viên của một trường cấp ba tại địa phương. Tôi đã làm việc ở đây được 9 năm rồi, nay ở cơ quan tôi có một số vấn đề như sau, kính mong luật sư tư vấn giúp tôi và các đồng nghiệp là cần phải làm gì?

Sự việc cụ thể như sau: Cơ quan tôi được sở giáo dục bổ nhiệm một hiệu trưởng nay đã được ba năm. Ông hiệu trưởng này làm việc không tốt dẫn đến nhiều vấn đề của nội bộ bị lục đục. ông đã vi phạm nhiều vấn đề về quản lý tài chính của cơ quan, thực hiện các công việc không minh bạch trong việc can thiệp vào kết quả thi cử cho học sinh, đánh giá không đúng về năng lực, phẩm chất của giáo viên khiến cho rất nhiều giáo viên bức xúc và tỏ ý không tha thiết với công việc hiện tại do cách quản lý của hiệu trưởng này.

Các cuộc họp lấy ý kiến, biểu quyết của giáo viên không được dân chủ, hiệu trường tạo nên một nhóm lợi ích riêng gồm người nhà và những người thân quen. Nay chúng tôi biết được sai phạm nhưng không thể tố cáo hiệu trưởng vì tất cả các giấy tờ thủ tục cũng như các công việc của ông đều có quy trình nên chúng tôi sợ không giám tố cáo.

Nay tôi mong luật sư tư vấn cho chúng tôi là cần phải làm gì để phanh phui được những sai phạm của ông hiệu trưởng này mà chúng tôi không bị lật lại là vu khống ông ấy.

Xin chân thành cảm ơn luật sư!

 

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hành chính của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hành chính, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý được 

Luật khiếu nại năm 2011

Bộ luật hình sự năm 2015

Thông tư 16/2018/TT-BGDDT năm 2018

>> Xem thêm:  Điều kiện để được công nhận, bổ nhiệm Hiệu trưởng và phó Hiệu trưởng trường mầm non ?

Luật sư tư vấn

 

1. Khái niệm khiếu nại

Để được giải trình về những vấn đề chưa rõ tại cơ quan trước hết bạn cần trao đổi trực tiếp để được giải trình rõ về vấn đề mà bạn quan tâm. Trên thực tế chỉ những vấn đề nhỏ, những vấn đề không sai phạm thì trưởng cơ quan mới giải trình rõ bằng lời nói trực tiếp nên trong trường hợp này bạn nên làm đơn khiếu nại gửi trực tiếp cho người đứng đầu cơ quan để được giải trình bằng văn bản, việc giải trình này còn làm căn cứ để bạn có thể khiếu nại lên cấp trên trực tiếp để được rõ. Các bước khiếu nại còn làm căn cứ để có thể thực hiện các công việc khác tiếp theo như khởi kiện hành chính, tố cáo....

Tại khoản 1 Điều 2 Luật khiếu nại năm 2015 quy định về khiếu nại như sau:

"Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình."

Việc bạn khiếu nại để được giải trình về các quyết định của hiệu trưởng dù có được giải quyết hay không được giải quyết, hiệu trưởng có sai phạm hay không thì bạn vẫn không bị kiện về tội vu khống hoặc nếu có bị khởi kiện thì cũng không đủ căn cứ để cấu thành tội vu khống.

 

2. Hình thức khiếu nại

Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp.

>> Xem thêm:  Điều kiện để trở thành hiệu trưởng, hiệu phó của trưởng tiểu học theo quy định mới nhất hiện nay

Đối với khiếu nại bằng đơn

Trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và yêu cầu giải quyết của người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.

Đối với khiếu nại trực tiếp

Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định như đối với khiếu nại bằng đơn

Đối với trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung

Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung thì thực hiện như sau:

– Trường hợp nhiều người đến khiếu nại trực tiếp thì cơ quan có thẩm quyền tổ chức tiếp và hướng dẫn người khiếu nại cử đại diện để trình bày nội dung khiếu nại; người tiếp nhận khiếu nại ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định như đối với khiếu nại bằng đơn.

– Trường hợp nhiều người khiếu nại bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ nội dung theo quy định như đối với khiếu nại bằng đơn, có chữ ký của những người khiếu nại và phải cử người đại diện để trình bày khi có yêu cầu của người giải quyết khiếu nại;

 

3. Quy định pháp luật về Tội vu khống

>> Xem thêm:  Khiếu nại hành vi sai trái của hiệu trưởng phải làm như thế nào?

Tại quy định của Điều 156 Bộ luật hình sự năm 2015 có quy định về tội vu khống như sau:

"Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

>> Xem thêm:  Nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng trường cao đẳng theo quy định mới nhất hiện nay

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Vì động cơ đê hèn;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

c) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Để cấu thành tội vu khống thì phải có đủ căn cứ là bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

>> Xem thêm:  Quy định về chế độ nghỉ hè của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng nhà trường

 

4. Cấu thành tội phạm của tội vu khống 

Mặt khách quan của tội phạm

-Về hành vi, có một trong các hành vi sau đây:

+ Có hành vi bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Hành vi này thể hiện qua việc người phạm tội đã tự đặt ra và loan truyền những điều không đúng với sự thật và có nội dung xuyên tạc để xúc phạm đến danh dự của người khác hoặc để gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Ví dụ: Nhân viên cơ quan đã đưa ra tin tức là trưởng phòng của mình có hành vi đồi bại, dâm ô đối với mình hoặc với người khác (nhưng trên thực tế không có thật) nhằm để hạ uy tín và làm cho trưởng phòng bị kỷ luật phải bị mất chức. Người phạm tội thực hiện hành vi này có thể bằng cách nói trực tiếp hoặc thông qua các phương thức khác như qua phương tiện thông tin đại chúng, nhắn tin qua điện thoại di động

+ Có hành vi loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Hành vi này được thể hiện qua việc ngưòi phạm tội tuy không đặt ra những điều không đúng sự thật về người khác và biết rõ điều đó là bịa đặt (việc biết rõ điều mình loan truyền là bịa đặt là dấu hiệu bắt buộc) nhưng vẫn loan truyền điều bịa đặt đó (như nói cho những người khác biết, đưa lên phương tiện thông tin đại chúng…) cho người khác.

+ Có hành vi bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Được thể hiện qua việc tự mình bịa ra rằng người khác có hành vi thực hiện một tội phạm nào đó và tố cáo họ trước cơ quan Nhà nước như: Công an, Viện kiểm sát… mặc dù thực tế người này không phải là người thực hiện những hành vi phạm tội đó.

– Về hậu quả. Trong trường hợp các hành vi nêu trên không có mục đích nhằm xúc phạm danh dự của người khác thì hậu quả gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

Khách thể của tội phạm

>> Xem thêm:  Công văn 8499/BGDĐT-NGCBQLGD 2013 hướng dẫn số tiết giảng dạy theo quy định của hiệu trưởng

Hành vi nêu trên xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân.

Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Mục đích xúc phạm danh dự của người khác là dấu hiêu cấu thành cơ bản của tội này.

Chủ thể của tội phạm

- Chủ thể của tội này là người từ 16 tuổi trở lên .

- Người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này, vì tội phạm này có hai khoản nhưng không có trường hợp nào quy định là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng và điều 12 BLHS cũng không liệt kê đây là tội phạm mà người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự.

 

5. Điểm khác biệt giữa tội vu khống và tội làm nhục người khác

- Điểm khác biệt giữa tội vu khống và tội làm nhục người khác là ở hành vi khách quan: Hành vi khách quan của tội làm nhục người khác là hành vi dùng lời nói, cử chỉ thiếu văn hóa, lăng mạ xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác. Như lăng mạ, chửi rủa thậm tệ, cạo đầu, cắt tóc, lột quần áo, quay clip… Để làm nhục người khác, người phạm tội có thể có những hành vi vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực như bắt trói, tra khảo, vật lộn, đấm đá hoặc dùng phương tiện nguy hiểm khống chế, đe dọa, buộc người bị hại phải làm theo ý muốn của mình. Còn hành vi khách quan của tội vu khống là hành vi phao tin bịa đặt, loan truyền tin biết rõ là bịa đặt để làm giảm uy tín hoặc tung tin thất thiệt về tội phạm, tố cáo người khác phạm tội bằng tin bịa đặt.

- Đối tượng bị vu khống của tội này không phải là pháp nhân hay một nhóm người mà là con người cụ thể.

>> Xem thêm:  Chế độ phụ cấp đứng lớp của hiệu trưởng?

- Người phạm tội thuộc trường hợp quy định ở khoản 1 chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi người bị hại có yêu cầu khởi tố hình sự. Nếu trước ngày mở phiên toà sơ thẩm hình sự, người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố thì vụ án phải được đình chỉ.

- Thực tế có rất nhiều tin báo tố giác tội phạm do công dân, tổ chức cung cấp, nhưng qua điều tra xác minh Cơ quan điều tra xác định không có tội phạm xảy ra và đã ra quyết định không khởi tố vụ án.

Còn ở đây bạn và những người giáo viên khác chỉ khiếu nại yêu cầu giải trình về một hoặc một số vấn đề còn thắc mắc chứ không tố cáo hiệu trưởng về hành vi phạm pháp luật nào cả.

Tất nhiên việc khiếu nại lên cấp trên cao hơn, ở đây có thể là Sở giáo dục thì nếu có đủ căn cứ là người hiệu trưởng này có vi phạm về chức vụ quyền hạn, tham nhũng thì cơ quan cấp trên có quyền yêu cầu cơ quan chức năng có thẩm quyền vào cuộc điều tra làm rõ, nếu mức vi phạm về tài chính hoặc các quyết định khác có căn cứ vi phạm thì có thể cấu thành tội phạm theo quy định pháp luật hình sự.

 

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hành chính - Công ty luật Minh Khuê