Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900 6162

1. Khởi kiện vụ án dân sự là gì? Ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự

Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức nộp đơn yêu cầu tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác theo quy định của pháp luật. Cá nhân, cơ quan, tổ chức không chỉ có quyền nộp đơn yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình mà còn có quyền nộp đơn yêu cầu bảo vệ quyền lợi của chủ thể khác. Cụ thể những chủ thể có quyền đó được quy định tại điều 187 như sau:

1. Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

2. Tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật.

3. Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

4. Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật.

5. Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Ý nghĩa của việc khởi kiện:

- Khởi kiện vụ án dân sự là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Đây là hành vi đầu tiên của các chủ thể trong quan hệ tranh chấp đưa vấn đề tranh chấp trước tòa án và khởi động một quá trình tố tụng. Chỉ khi có đơn yêu cầu khởi kiện của chủ thể thì tòa án mới xem xét để có thụ lý giải quyết hay không. Quyền khởi kiện của cả nhân, tổ chức, cơ quan là xuất phát từ ý chí của chính họ, họ có quyền tự thỏa thuận và tự định đoạt đối với các tranh chấp dân sự.

- Đây là một phương thức để bảo vệ quyền dân sự. Quyền dân sự của các chủ thể sẽ trở nên vô nghĩa nếu như không đi kèm với tố quyền, tức là quyền yêu cầu tòa án can thiệp khi quyền dân sự của họ bị xâm phạm. Bằng hoạt động xét xử, tòa án góp phần bảo vệ và củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa đồng thời nâng cao hiệu quả xét xử, xác lập chế độ trách nhiệm cao với nhân dân, củng cố lòng tin của nhân dân với chế độ.

Ý nghĩa của các điều kiện khởi kiện vụ án dân sự:

- Nhằm sàng lọc sơ bộ đối với các đơn khởi kiện. Từ đó bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự, bảo đảm tính hiệu quả, hợp lí, khoa học của các hoạt động tố tụng dân sự, tránh lãng phí nguồn lực của Tòa án và xã hội, hạn chế việc lạm dụng quyền khởi kiện của các chủ thể, đồng thời bảo đảm sự ổn định tương đối của các quan hệ dân sự.

- Tuy nhiên, các điều kiện khởi kiện cũng có thể sẽ trở thành rào cản đầu tiên trên con đường tiếp cận công lý của các chủ thể quan hệ pháp luật dân sự. Các điều kiện cần được quy định một cách thận trọng, để một mặt tránh sự lạm dụng quyền khởi kiện gây lãng phí nguồn lực của nhà nước và xã hội, mặt khác đảm bảo tối đa quyền khởi kiện của các chủ thể.

2. Phạm vi khởi kiện vụ án dân sự?

Phạm vi khởi kiện là phạm vi các yêu cầu mà người khởi kiện có thể đưa ra trong cùng 1 đơn khởi kiện để giải quyết trong vụ án theo quy định tại Điều 188 BLTTDS 2015 Phạm vi khởi kiện:

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể khởi kiện một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân giải quyết trong cùng một vụ án khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để;

2. Nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể cùng khởi kiện một cơ quan, một tổ chức, một nhau để giải quyết trong cùng một vụ án. cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với

3.Cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 187 của Bộ luật này có thể khởi kiện một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án.

Nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể kiện cá nhân, cơ quan, tổ chức khác về 1 hay nhiều Tòa án nhân dân tối cao giải thích “ nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau" theo nghĩa khá rộng, bao gồm 2 trường hợp một là, việc giải quyết quan hệ pl này đòi hỏi phải giải quyết đồng thời quan hệ pl khác

Ví dụ: A khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định B là cha của con Á và đồng thời yêu cầu B thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con của A hai là, việc giải quyết các quan hệ pl có cùng đương sự và về cùng loại tranh chấp .ví dụ A khởi kiện yêu cầu B trả tiền thuê nhà theo hợp đồng thuê nhà giữa A và B, đồng thời A khởi kiện yêu cầu B trả nợ theo hợp đồng vay tài sản giữa A và B, hai quan hệ p! này có cùng đương sự và cùng thuộc loại tranh chấp về hợp đồng dân sự. 

3. Các trường hợp Tòa án trả lại đơn kiện

3.1. Trường hợp "người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự"

- Trả lại đơn khởi kiện là việc Tòa án sau khi xem xét thụ lý vụ án, đã trả lại đơn khởi kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo cho người khởi kiện bởi thấy việc khởi kiện chưa đáp ứng đủ các điều kiện khởi kiện nên không thể thụ lý vụ án. Trường hợp người khởi kiện không có quyền khởi kiện. Đây là trường hợp người khởi kiện không thuộc trường hợp quy định tại Điều 186 Quyền khởi kiện vụ án và điều 187

Quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước của Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng. Người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng dâ sự là người không có khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự theo quy định tại Điều 69 Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự của Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự 2015

3.2. Trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện do “chưa có đủ điều kiện khởi kiện”?

Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp các đương sự có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về các điều kiện để khởi kiện (kể cả quy định về hình thức, nội dung đơn kiện, nhưng đương sự đã khởi kiện khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.

Ví dụ 1: Theo quy định tại Điều 135 của Luật Đất đai thì tranh chấp đất đai phải qua thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp. Do đó, kể từ ngày 01-7-2004 (ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành), thì Tòa án chỉ xem xét, thụ lý tranh chấp đất đai khi tranh chấp đất đó đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Trường hợp tranh chấp đất đai chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, thì Tòa án căn cứ vào quy định tại điểm d khoản 1 Điều 168 của BLTTDS để trả lại đơn khởi kiện và hướng dẫn đương sự tiến hành thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp.

Ví dụ 2: Trong đơn khởi kiện, nguyên đơn không ghi đúng địa chỉ của bị đơn, mặc dù Tòa án yêu cầu bổ sung nhưng đã quá thời hạn do Tòa án ấn định mà nguyên đơn vẫn không bổ sung được

4. Hậu quả pháp lý của việc trả lại đơn khởi kiện?

Không có quyền nộp lại đơn khởi kiện lại vụ án đối với các trường hợp trả lại đơn kiện do vụ án không thuộc thẩm quyền theo loại việc của tòa án, hoặc do sự việc đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Có quyền nộp lại đơn khởi kiện: người khởi khởi kiện có quyền khởi kiện hoặc đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự (người chưa thành niên đã đủ 18 tuổi và có năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ...)

+ Xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, xin thay đổi người gly tài sản, thay đổi người quản lý di sản hoặc vụ án đòi tài sản,cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện. Đây là loại tranh chấp mà có sự chuyển biến , thay đổi của tỉnh hình, quyền dã sự của chủ thể không còn được đảm bảo căn bản án, quyết định đã có hiệu lực pl trước đây, nên cần quy định cho chủ thể có khuyến khích lại để bảo vệ quyền dân sự của mình phù hợp với tình hình mới.

+ Vụ án mà trước đó tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp: a) người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện; b)nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt; c) đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã cứ vào quyền đó.

+ Đã có đủ điều kiện khởi kiện ví dụ: đơn khởi kiện đã được bổ sung đầy đủ nội dung theo yêu cầu của Tòa án.

+ Người khởi kiện đã nộp tiền tạm ứng án phí và xuất trình biên lại cho Tòa án sau khi Tòa án trả lại đơn khởi kiện, thì được coi là nộp đơn khởi kiện lại

+ Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật: là các trường hợp chưa quy định trong bộ luật tố tụng dân sự nhưng do quy định trong các văn bản pháp luật khác có hiệu lực hoặc trong điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên

Do việc trả lại đơn khởi kiện không đúng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyền khuyến của các chủ thể nên luật TTDS quy định người khởi kiện có quyền khiếu nại và Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện, chánh Tòa án phải giải quyết khiếu nại đó và quyết định giữ nguyên việc trả lại đơn kiện hoặc nhận lại đơn kk và tài liệu kèm theo để tiến hành thụ lý vụ án. Nếu vẫn không đồng ý với giải quyết khiếu nại, kiến nghị thì người khởi kiện có quyền khiếu nại, viện kiểm sát có quyền kiến nghị với chánh án tòa án cấp trên trực tiếp và quyết định của chánh án ta cấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng.

5. Những thách thức trong thực tiễn khởi kiện vụ án dân sự hiện nay?

Đối với điều kiện về chủ thể khởi kiện: Đối với các vụ án ly hôn không được áp dụng chế độ người đại diện. Tức là phải đích thân chồng hay vợ đứng đơn khởi kiện và tham gia tố tụng chứ không thể nhờ ai thay mặt mình được. Thực tiễn cho thấy những vụ xin ly hôn liên quan đến vợ, chồng bị mất năng lực hành vi dân sự không phải là hiếm mà pháp luật hiện nay lại chưa có quy định điều chỉnh tình huống này. Vậy cha, mẹ có thể là người đại diện để bảo vệ quyền và lợi ích cho con họ - người bị mất năng lực hành vi dân sự trong vụ án ly hôn hay không?

Hiện nay thì Tòa án vẫn không tiếp nhận giải quyết những trường hợp cha mẹ là người đại diện khởi kiện này. Do đó, nhằm hướng tới việc bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cần ban hành văn bản hướng dẫn theo đó cho phép cha, mẹ là người giám hộ theo hàng thứ hai (vợ, chồng là người giám hộ theo hàng thứ nhất) có quyền đại diện cho con bị mất năng lực hành vi dân sự trong khởi kiện và tham gia tố tụng ở vụ việc ly hôn.

Đối với điều kiện về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Thực tiễn cho thấy tình trạng người đi khởi kiện do không hiểu biết nhiều về pháp luật nên không thực hiện đúng được các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự và cũng không ít trường hợp đương sự khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự không đúng thẩm quyền của Tòa án nên đã bị trả lại đơn khởi kiện. Việc này làm mất nhiều thời gian, công sức của cả bên đi kiện và Tòa án.

Về thời hiệu khởi kiện: Trên thực tế có nhiều nguyên nhân khách quan mà việc khởi kiện không được thực hiện trong thời hạn quy định. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ, pháp luật quy định không tinh vào thời hiệu khởi kiện khoảng thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan, người có quyền khởi kiện chưa thành niên, bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà chưa có người đại diện, người đại diện của họ bị chết mà chưa có người thay thế hoặc vi lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê