1. Cách hiểu về ký tắt điều ước quốc tế

Ký tắt điều ước quốc tế là hành vi của người đại diện có thẩm quyền của quốc gia trong cuộc đàm phán kí tên vào góc dưới phía bên trái các trang của bản dự thảo điều ước quốc tế nhằm ghi nhận những nội dung đã thoả thuận trong quá trình đàm phán trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc chấp nhận những nội dung đó và chính thức kí điều ước quốc tế.

Ký tắt điều ước quốc tế không phải là thủ tục bắt buộc trước khi kí chính thức điều ước quốc tế song có tác dụng ngăn ngừa sự bội ước, qua đó đẩy nhanh tiến độ đàm phán, kí kết điều ước quốc tế do không phải quay lại đàm phán những điều khoản mà các bên đã thoả thuận được với nhau. Vì không phải là thủ tục bắt buộc trong đàm phán, kí kết điều ước quốc tế, nên kí tắt không được quy định trong Pháp lệnh về kí kết và thực hiện điều ước quốc tế năm 1998 (Xt. Kí kết điều ước quốc tế).

2. Tên gọi, cơ cấu, ngôn ngữ của điều ước quốc tế

2.1 Tên gọi của điều ước quốc tế

Điều ước quốc tế là tên khoa học pháp lý chung để chỉ các vãn bản pháp luật quốc tế do hai hay nhiều chủ thể luật quốc tế ký kết. Trong từng quan hệ điều ước cụ thể, điều ước có thể được gọi bằng rất nhiều tên gọi khác nhau như hiệp ước, hiệp định, công ước, hiến chương, quy chế...

Luật điều ước quốc tế cũng như pháp luật của mỗi quốc gia đều không có những quy định cụ thể nhằm ãh định rõ tên gọi cho từng loại điều ước. Trong thực tiễn, có những điều ước có cùng nội dung và tính chất nhưng giữa các văn bản điều ước này lại có thể có tên gọi khác nhau. Việc xác định tên gọi cụ thể cho một điều ước hoàn toàn do các chủ thể ký kết điều ước đó thoả thuận quyết định.

2.2 Cơ cấu của điều ước quốc tế

Hầu hết các điều ước quốc tế song phương và đa phương thường được kết cấu thành ba phần:

- Phần lời nói đầu: Phần này không được chia thành từng chương, từng điều hoặc từng khoản. Trong phần lời nói đầu không chứa đựng các quy phạm cụ thể xác lập quyền và nghĩa vụ cho các bên mà chỉ nêu lý do ký kết, mục đích ký kết, tên của các bên tham gia ký kết...

- Phần nội dung chính: Đây là phần chính, rất quan trọng của điều ước. Nó thường được chia thành các phần, các chương, các điều nhằm điều chỉnh các lĩnh vực hợp tác mà các bên quan tâm.

- Phần cuối cùng: Phần này thường bao gồm các điều khoản quy định về thời điểm, thời hạn có hiệu lực của điều ước, ngôn ngữ soạn thảo điều ước, vấn đề sửa đổi, bổ sung, cơ quan lưu chiểu điều ước...

2.3 Ngôn ngữ của điều ước

Việc lựa chọn một hoặc một số ngôn ngữ phù hợp cho công việc soạn thảo văn bản điều ước và thể hiên sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia ký kết hoàn toàn phụ thuộc vào sự thoả thuận của các bên. Các văn bản điều ước soạn thảo bằng ngôn ngữ đã được lựa chọn đều là văn bản gốc và có giá trị pháp lý như nhau. Các ngôn ngữ được lựa chọn trong văn bản điều ước thường là ngôn ngữ làm việc chính thức của Liên hợp quốc (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc, tiếng Tây Bạn Nha, tiếng A Rập) hoặc ngôn ngữ của các bên ký kết (đối với điều ước song phương). Theo quy định tại Điều 5 Luật điều ước quốc tế năm 2016,

“Điều ước quốc tế hai bên phải có văn bản bằng tiếng Việt, trừ trường hợp có thoả thuận khác với bên ký kết nước ngoài .

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)