1. Kỹ năng của luật sư trong vụ việc tranh chấp thừa kế

Để thành công trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của thân chủ trong các vụ việc tranh chấp thừa kế, Luật sư cần chú ý một số đặc thù riêng biệt trong tranh chấp thừa kế.

1. Đặc điểm về các vụ việc về tranh chấp thừa kế:

Đặc điểm thứ nhất: Đây là quan hệ tranh chấp liên quan đến những người thân thích, ruột thịt trong gia đình, dòng tộc. Tranh chấp xung quanh thừa kế di sản là loại tranh chấp nặng nề, phức tạp, ở một khía cạnh nào đó liên quan đến tình cảm thiêng liêng nhiều lúc sâu lắng trong tâm khảm không chỉ giữa những người đang tranh chấp mà vô hình chung nó liên quan đến quan hệ với người đã quá cố để lại di sản thừa kế…

Quan hệ tranh chấp thoạt nhìn thì có vẻ như đơn giản, nhưng bên trong chứa chất mâu thuẫn phức tạp, nặng nề và nhiều lúc rất gay gắt, sâu sắc. Quan hệ tranh chấp thừa kế không chỉ liên quan đến một vài đương sự, nhiều vụ việc thực tế liên quan đến rất nhiều người trong gia đình, họ tộc. Nếu giải quyết không tốt nhiều lúc quan hệ tranh chấp tài sản thừa kế trở thành mối ung nhọt phá vỡ tình cảm trong gia đình, họ tộc đã được hình thành qua nhiều thế hệ. Thậm chí quan hệ tranh chấp đó có thể phá vỡ cả hệ thống tiêu chí đạo đức, mĩ tục đã kết tinh thành truyền thống tương thân, tương ái của từng gia đình và dòng tộc. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ mình trong tranh chấp thừa kế, Luật sư còn cần có trách nhiệm trong việc giữ gìn tình anh em, nghĩa đồng bào, tình ruột thịt, và xa hơn là tình làng nghĩa xóm, vun đắp cho tình nghĩa gia đình anh em ruột thịt và tạo cho xã hội ổn định và phát triển.

Đặc điểm thứ hai: Quan hệ tranh chấp về thừa kế gắn liền với nhiều yếu tố truyền thống gia phong, gia tộc có những quan hệ gắn với gốc rễ, cội nguồn của một gia đình, họ tộc, thậm chí ở nhiều địa phương gắn với nhiều phong tục tập quán sắc tộc, quần cư… Yếu tố gốc gác cội nguồn thể hiện trong quan hệ thừa kế vừa cụ thể, vừa tế nhị – vì không chỉ là quan hệ pháp lý đơn thuần, mà còn mang nặng tình cảm của từng cá nhân tham gia vào quan hệ đó.

Đặc điểm thứ ba: Quan hệ tranh chấp về di sản thừa kế không chỉ liên quan chủ yếu đến quan hệ tài sản và quyền tài sản, mà còn liên quan đến quyền nhân thân của các đương sự tranh chấp thừa kế. Việc thừa nhận được hưởng di sản gắn với cội nguồn, quyền nhân thân của họ. Cũng từ đó nhiều lúc liên quan đến danh dự của từng cá nhân trong xã hội. Có nhiều trường hợp đương sự không chỉ đơn thuần được hưởng di sản của người để lại thừa kế, mà qua đó để khẳng định tính huyết thống, tình cảm của người quá cố đối với mình và ngược lại, bằng cách đó duy trì quan hệ gia đình với người khác…

Đặc điểm thứ tư: Quan hệ tranh chấp về thừa kế, bao giờ cũng liên quan đến tài sản và quyền tài sản, thường di sản là những tài sản có giá trị lớn hoặc di sản có ý nghĩa về tinh thần… Di sản càng có giá trị lớn về kinh tế, có ý nghĩa lớn về mặt tinh thần thì tranh chấp càng gay gắt và đó là quy luật. Hơn nữa, do những hạn chế của hệ thống pháp luật nước ta trước đây còn thiếu hoặc chưa quy định đầy đủ về thủ tục đăng ký, quản lý tài sản của công dân (đặc biệt là bất động sản), nên việc xác định nguồn gốc của di sản thừa kế trở nên khá phức tạp, khó khăn. Vấn đề khó khăn nan giải của Luật sư là xác định đúng, chính xác có phải người để lại thừa kế là chủ sở hữu đích thực tài sản đó hay không, đặc biệt liên quan đến bất động sản.

Đặc điểm thứ năm: Liên quan đến các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế. Thực tế hệ thống pháp luật của nước ta trong lĩnh vực thừa kế, giải quyết tranh chấp thừa kế chưa đồng bộ, thậm chí có chỗ còn chưa thống nhất, còn chồng chéo, mâu thuẫn. Do điều kiện khách quan của các cuộc chiến tranh giải phóng đất nước, chúng ta đã không dành sự quan tâm thích đáng đối với lĩnh vực pháp luật này. Hơn nữa, do chiến tranh kéo dài, những hồ sơ về gốc gác tài sản của công dân cũng thất lạc, mất mát… Sau khi thành lập nhà nước mới và sau khi giải phóng miền nam, những quy định pháp luật về chuyển dịch tài sản và quản lý tài sản (đặc biệt là bất động sản) từ chế độ cũ sang chế độ mới cũng thay đổi và khác biệt về bản chất.

Đặc điểm thứ sáu: Nói đến thừa kế là liên quan đến Luật Hôn nhân – Gia đình, Luật Hôn nhân – Gia đình của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mới có hiệu lực từ năm 1961 nhưng do đất nước bị kẻ thù chia cắt nên luật này chỉ mới có hiệu lực ở miền Bắc. Đến năm 1980, khi Quốc hội chung của cả nước thống nhất mới có Nghị quyết về áp dụng văn bản quy phạm luật thống nhất chung cho cả nước trong đó có Luật Hôn nhân – Gia đình. Do đặc thù lịch sử đó, quan hệ hôn nhân – gia đình ở nước ta trong các giai đoạn lịch sử vừa qua là phức tạp, cùng với sự chuyển dịch dân số, con người từ vùng này sang vùng khác trong điều kiện chiến tranh làm cho quan hệ hôn nhân – gia đình càng phức tạp hơn.

Đặc điểm thứ bẩy: liên quan đến quan hệ thừa kế: Trên đất nước chúng ta có 54 dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi dân tộc có truyền thống và tập quán riêng, liên quan đến thừa kế. Thậm chí cùng là một dân tộc nhưng ở mỗi vùng, miền, địa phương lại tồn tại tập quán riêng về thừa kế mà tại địa phương đó đã thành thông lệ, ví dụ như quyền thừa kế của con trai trưởng, hoặc thừa kế theo huyết thống dấu ấn chế độ mẫu hệ… hoặc tồn tại ý thức trong một số người quan niệm trọng nam, khinh nữ trong quan hệ thừa kế. Những quan niệm phong kiến ở nhiều nơi ăn sâu, bám rễ và là nguyên nhân gây nên sự tranh chấp về thừa kế.

Đặc điểm thứ tám: Đây là đặc thù gây không ít khó khăn trong giải quyết các tranh chấp về thừa kế, đó là do trình độ pháp lý của dân chưa cao, nhiều người dân không hiểu biết những quy định của pháp luật thừa kế. Họ không biết họ có quyền gì và như thế nào. Thậm chí, những quy định về di chúc để lại thừa kế họ cũng không biết, những quy định của pháp luật chia thừa kế theo pháp luật họ cũng không nắm được. Những đặc thù này gây những phức tạp nhất định trong việc giải quyết các tranh chấp về thừa kế.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

1. Kỹ năng cần thiết của Luật sư khi nhận bảo vệ quyền, lợi ích cho thân chủ trong các vụ tranh chấp về thừa kế.

1.1. Luật sư cần biết rõ về thân chủ: Do đòi hỏi nghề nghiệp Luật sư trước hết phải biết về thân chủ, đây là cả một vấn đề khoa học và nghệ thuật lớn. Để bảo vệ lợi ích cho thân chủ, Luật sư không thể không biết rõ về thân chủ của mình, đặc biệt trong các vụ việc tranh chấp về thừa kế. Bằng cách gì và như thế nào để có được những thông tin đầy đủ khách quan, chuẩn xác về thân chủ, điều đó phụ thuộc cách tiếp cận và khả năng khai thác của từng cá nhân Luật sư. Luật sư cần lưu ý, thân chủ có thể là tổ chức, pháp nhân được thừa kế theo di chúc của người để lại di sản thừa kế.Trước hết, trong vụ việc tranh chấp thừa kế, luật sư cần có đầy đủ thông tin về gốc gác, gia đình của chính thân chủ, những gì liên quan đến nhân thân của thân chủ. Xác định chuẩn xác quan hệ gia đình, dòng tộc của thân chủ với người để lại thừa kế… Xác định quan hệ của thân chủ với người hoặc số người đang có tranh chấp về di sản thừa kế là đương sự của vụ án.Tìm hiểu và có đánh giá chuẩn xác quan hệ giữa họ với nhau. Xác định quan hệ thân chủ của mình với những người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ việc tranh chấp.Xác định chuẩn xác quan hệ thân chủ với người làm chứng (nếu có) trong vụ tranh chấp.Bằng cách nào đó xác định nét chữ, bút tích, thói quen, sở thích, ý muốn của thân chủ. Ngoài ra, Luật sư cần tìm hiểu, cần biết về đạo đức, lối sống, quan hệ xã hội, nghề nghiệp, vị trí công tác của thân chủ mình.Đồng thời, cần phải tìm hiểu quan hệ gia đình, thái độ đối xử của thân chủ với người thân, với những người khác mà thân chủ có quan hệ. Qua tìm hiểu, để Luật sư biết rõ mình đang bảo vệ quyền, lợi ích cho thân chủ mình là ai, tạo ra sức mạnh nội tâm trong công việc.

1.2. Luật sư cần nắm vững yêu cầu của thân chủ trong vụ việc tranh chấp tài sản:Tưởng đây là vấn đề đơn giản, nhưng qua thực tế hành nghề Luật sư, không phải Luật sư nào cũng nắm vững và hiểu yêu cầu đích thực của thân chủ.Hiểu yêu cầu của thân chủ, là nắm bắt được cốt lõi mục đích và giới hạn cuối cùng của yêu cầu có thể đạt được, đồng thời tìm hiểu khả năng thoả hiệp giải quyết tranh chấp bằng hoà giải.Để nắm được đầy đủ, chi tiết yêu cầu của thân chủ, Luật sư có thể tìm hiểu, nghiên cứu qua:

1.2.1. Tiếp xúc, gặp gỡ với thân chủ: Đây cũng là nghệ thuật, đòi hỏi Luật sư phải hiểu biết về khoa học tâm lý, và văn hoá giao tiếp. Bằng thái độ chân tình tìm hiểu xem thân chủ của mình mong muốn đạt được gì, qua tiếp xúc, gặp gỡ họ có thể bộc bạch tất cả. Cách tiếp xúc, gợi chuyện của Luật sư với thân chủ còn phụ thuộc vào thân chủ là bị đơn dân sự hay nguyên đơn dân sự. Nếu thân chủ là nguyên đơn dân sự trong vụ việc tranh chấp, thì cách đặt vấn đề, gợi mở phải phù hợp với yêu cầu của thân chủ, trường hợp thân chủ lại là bị đơn dân sự trong vụ việc tranh chấp, thì Luật sư phải tìm hiểu xem lý do tranh chấp, mức độ tranh chấp, giới hạn của tranh chấp, nội dung phần yêu cầu của thân chủ đối với nguyên đơn, thái độ và quan điểm chủ quan của thân chủ về hướng giải quyết tranh chấp.

1.2.2. Tìm hiểu yêu cầu của thân chủ qua đơn từ:Đối với thân chủ là nguyên đơn dân sự, Luật sư cần nghiên cứu kỹ đơn kiện của thân chủ. Qua nghiên cứu đơn khởi kiện để xác định xem thời hiệu khởi kiện còn không, yêu cầu cụ thể của thân chủ gồm những gì: Di sản, quyền tài sản, và tìm hiểu xem ngoài ra thân chủ có yêu cầu gì khác không. Qua tiếp xúc và qua đơn, Luật sư phải nắm vững được mục đích thực tế, mục đích sâu xa của thân chủ qua vụ kiện.Qua đơn của thân chủ, Luật sư có thể nắm bắt nỗi niềm, dự cảm của thân chủ mình. Từ đó để Luật sư hiểu thêm về các luận cứ mà thân chủ dựa vào đó đưa ra yêu cầu. Nghiên cứu đơn của thân chủ là nguyên đơn dân sự, để Luật sư có thể giúp thân chủ hoàn chỉnh lại đơn, mở rộng phạm vi, yêu cầu hoặc sơ bộ giới hạn yêu cầu… Việc nghiên cứu kỹ đơn của thân chủ nhằm xác định đúng yêu cầu của thân chủ, sẽ giúp cho Luật sư tìm những căn cứ pháp lý và căn cứ thực tế chứng minh cho yêu cầu chính đáng của thân chủ và sẽ không có những trục trặc khi phiên toà diễn ra. Tránh được tình trạng: ông nói gà, bà nói vịt giữa thân chủ và luật sư.Đối với thân chủ là bị đơn dân sự, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ của mình, Luật sư phải nắm bắt căn cứ phản tố của thân chủ và những yêu cầu mà thân chủ có thể đưa ra độc lập đối với nguyên đơn. Tìm hiểu những trăn trở, băn khoăn của thân chủ, qua đơn phản tố, Luật sư có thể nắm bắt được tinh thần mà thân chủ mình muốn giải quyết trong vụ việc, mức độ thoả hiệp, những giới hạn không thể chấp nhận thoả hiệp, những vấn đề về nguyên tắc mang tính sống còn trong giải quyết tranh chấp và chủ định của thân chủ về hướng giải quyết vụ tranh chấp. Chuẩn bị tốt khâu này, tại phiên toà sẽ không có những trục trặc bất ngờ có thể xảy ra giữa luật sư và thân chủ là bị đơn dân sự.

1.2.3. Nghiên cứu và thu thập chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích cho thân chủVới trách nhiệm đầy trọng trách bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ của mình, trước khi mở phiên toà giải quyết các vụ việc tranh chấp về thừa kế, Luật sư theo quy định của luật tố tụng dân sự, có thẩm quyền nghiên cứu hồ sơ vụ việc, trong đó có việc nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có liên quan.Thân chủ (đương sự của vụ án) ngoài nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Thẩm phán, đồng thời để Luật sư có đủ điều kiện chứng minh, lập luận bảo vệ lợi ích cho mình, họ cần có nghĩa vụ cung cấp những chứng cứ, tài liệu của vụ việc cho luật sư của mình.Trong quá trình nghiên cứu tài liệu, chứng cứ, Luật sư cần chủ động đề xuất yêu cầu của mình đối với thân chủ trong việc cung cấp chứng cứ, phát hiện và chủ động đề nghị thân chủ thu thập thêm chứng cứ khách quan (nếu thấy chưa đủ hoặc chưa thuyết phục). Trong trường hợp hồ sơ có những chứng cứ không đảm bảo, thiếu tính trung thực, không thuyết phục, thì luật sư nên chủ động yêu cầu thân chủ cung cấp các chứng cứ bổ sung, thay thế bằng những chứng cứ, tài liệu có tính khách quan và thuyết phục hơn.Trong một vài trường hợp, xét thấy cần thiết, luật sư có thể tự mình giúp thân chủ thu thập và cung cấp chứng cứ, tài liệu cho Toà án và cho chính mình để có đủ căn cứ lập luận bảo vệ lợi ích cho thân chủ.Luật sư cần hệ thống một cách khoa học hồ sơ vụ án qua việc tổng hợp, phân tích khách quan các chứng cứ, đặc biệt là các chứng cứ quan trọng có thể làm thay đổi nội dung vụ án theo hướng có lợi cho thân chủ của mình.

1.2.4. Giúp đỡ, tiếp xúc với các nhân chứng và những người có quyền và lợi ích liên quan.Luật sư với trách nhiệm nghề nghiệp và bằng quyền hạn mà pháp luật cho phép có thể tiếp xúc với các nhân chứng và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan của vụ việc tranh chấp thừa kế vì lợi ích của thân chủ. Bằng nghệ thuật giao tiếp, và trình độ chuyên môn, Luật sư có thể nắm bắt thêm những vấn đề liên quan đến vụ việc. Tìm hiểu quan hệ của họ với thân chủ của mình. Nắm bắt ý kiến của những người mình tiếp xúc, làm việc, để có thể định cho mình phương pháp, cách thức và đề xuất hướng giải quyết vụ việc vì quyền, lợi ích của thân chủ phù hợp với pháp luật, thấu tình đạt lý.

1.3. Luật sư cần xác định rõ di sản tranh chấp thừa kế:Như đã nêu ở đặc điểm thứ tư, mục I của bài này, quan hệ tranh chấp thừa kế liên quan trực tiếp đến tài sản thừa kế và thường là những tài sản vừa có giá trị kinh tế, vừa có ý nghĩa tinh thần. Nên để bảo vệ một cách có hiệu quả quyền và lợi ích của thân chủ, luật sư phải xác định rõ tài sản đang tranh chấp thừa kế. Di sản này là tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung của người khác – tính từ thời điểm mở thừa kế.Luật sư phải xác định được đó là di sản thừa kế hợp pháp của người để lại thừa kế.Trong trường hợp cần thiết phải tra tìm cội nguồn, tập hợp các chứng cứ, tài liệu cần thiết để chứng minh cho tài sản đó là di sản đang tranh chấp của thân chủ mình, thì Luật sư nên dành công sức, thời gian thích đáng cho xác minh điều đó.Đối với pháp luật nước ta, quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế. Ngoài ra, di sản thừa kế còn có thể là quyền tài sản (ví dụ: lợi ích từ bản quyền tác giả, tác phẩm, quyền phát minh, sáng chế, quyền sở hữu công nghiệp…).Khi xác định di sản tranh chấp, luật sư cần xác định rõ: giá trị di sản tranh chấp, di sản là bất động sản hay động sản, nơi có di sản tranh chấp, người quản lý di sản, các loại di sản, số lượng, chủng loại (nếu là vật, hàng hoá, sản phẩm, cổ phiếu…). Nếu cần phải định giá di sản, thì nói rõ với thân chủ, đề nghị thẩm phán thụ lý vụ việc yêu cầu thành lập hội đồng định giá tài sản.Nếu di sản cần được giám định, thì tương tự như vậy, cần đề nghị trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền.Trong khi xác định giá trị, số lượng, địa điểm liên quan đến di sản tranh chấp, Luật sư không nên quên là xác định luôn nghĩa vụ (có thể có) của người để lại thừa kế. Vì vấn đề thực hiện nghĩa vụ của người để lại thừa kế sẽ liên quan đến trách nhiệm, lợi ích của thân chủ.

1.4. Luật sư cần xác định rõ quan hệ pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích của thân chủ trong tranh chấp thừa kế:

1.4.1. Căn cứ vào quy định của pháp luật, Luật sư cần xác định rõ quyền của thân chủ trong quan hệ hưởng thừa kế đối với di sản tranh chấp.Trước hết, phải xác định rõ thời điểm mở thừa kế, tức là thời điểm người có tài sản để lại thừa kế chết.Luật sư phải xác định, thân chủ có nằm trong diện bị pháp luật cấm không được hưởng di sản hay không. Theo Bộ luật Dân sự bao gồm: Những người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, có hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó.Những người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.Những người bị kết án vì hành vi cố ý xâm phạm tính mạng của người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người đó có quyền hưởng, ở đây Luật sư cần phải tìm hiểu lý lịch tư pháp của thân chủ mình, không chủ quan khi xác minh về thân chủ.Những người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc… thì Luật sư cần phải yêu cầu giám định chữ viết, để có cơ sở xác định đúng sự thật khách quan của vụ việc.Luật sư lưu ý, nếu chia di sản theo di chúc, mà thân chủ có thể thuộc số người như nói trên, trong trường hợp người để lại di sản thừa kế đã biết rõ hành vi đó của họ, nhưng vẫn cho hưởng di sản thừa kế, thì quyền hưởng di sản thừa kế đó là quyền hợp pháp.Luật sư cũng cần nắm vững, nếu thân chủ của mình là cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc, thì cơ quan tổ chức đó phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.Nếu thân chủ là người sinh ra còn sống sau thời điểm mở thừa kế, nhưng thành thai trước khi người để lại thừa kế chết, là người có quyền hợp pháp hưởng quyền thừa kế theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật.

1.4.2. Bảo vệ quyền, lợi ích cho thân chủ trong các vụ việc tranh chấp thừa kế theo di chúc:Trước hết, Luật sư cần xác định rõ di chúc đó có hợp pháp hay không về điều kiện người lập di chúc, hình thức di chúc, nội dung di chúc, hiệu lực pháp luật của di chúc, những quy định của di chúc có người làm chứng, có di chúc không cần có người làm chứng, di chúc có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của UBND xã, phường, các thủ tục lập di chúc tại phòng công chứng và UBND xã, phường, thị trấn và quy định của pháp luật về những người không được chứng nhận, chứng thực di chúc… Đặc biệt, Luật sư cần lưu ý khi di chúc có phần không hợp pháp mà phần đó không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại, thì chỉ có phần đó không có hiệu lực pháp luật. Hoặc trong trường hợp khi người để lại di sản thừa kế có nhiều bản di chúc đối với tài sản, thì chỉ có bản di chúc sau cùng mới có hiệu lực pháp luật.Trong trường hợp thân chủ của mình là người thừa kế không phụ thuộc di chúc – tức là những người con chưa thành niên, cha mẹ, vợ chồng, hoặc là con của người để lại di sản thừa kế đã thành niên mà không có khả năng tự lao động kiếm sống, thì họ được hưởng 2/3 kỉ phần được hưởng di sản theo pháp luật. Nếu như người để lại di chúc không cho họ hưởng di sản thừa kế, hoặc cho họ hưởng ít hơn 2/3 kỉ phần theo pháp luật, trừ trường hợp họ bị pháp luật cấm được hưởng quyền thừa kế.Trường hợp thân chủ của Luật sư là người được hưởng di sản di tặng của người để lại thừa kế, thì cần lưu ý, thân chủ không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng. Người được hưởng di sản di tặng không được hưởng di sản đó chỉ trong trường hợp toàn bộ di sản để lại không đủ thanh toán nghĩa vụ của người để lại tài sản di tặng, thì phần tài sản di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ của người quá cố.Đặc biệt Luật sư cần lưu ý, trong khi bảo vệ quyền, lợi ích cho thân chủ của mình trong các vụ việc thừa kế theo di chúc, thì việc giải thích nội dung di chúc có tầm quan trọng nhất định: Pháp luật, đòi hỏi người công bố di chúc cùng những người thừa kế phải cùng nhau giải thích di chúc trong trường hợp nội dung di chúc không rõ dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, cần lưu ý quan hệ của người để lại di chúc với những người thừa kế theo di chúc, trong đó có thể có thân chủ của mình. Khi những người này không thể nhất trí với nhau về nội dung di chúc, thì coi như người chết không để lại di chúc và lúc đó di sản được chia thừa kế theo pháp luật.Pháp luật quy định giải thích nội dung di chúc như vậy, có thể có những người trong số những người thừa kế theo di chúc không muốn thừa nhận nội dung di chúc, hoặc có ý kiến khác để di chúc vô hiệu nhằm vì lợi ích cá nhân (có thể họ sẽ hưởng phần lợi hơn nếu di sản chia thừa kế theo pháp luật). Trong trường hợp đó, để bảo vệ lợi ích cho thân chủ, Luật sư cần chứng minh tính rõ ràng của di chúc, tính lôgic do quan hệ giữa người để lại di chúc với những người thừa kế có tên trong di chúc.

1.4.3. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ trong vụ việc tranh chấp thừa kế theo pháp luật.Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho thân chủ trong trường hợp tranh chấp thừa kế theo pháp luật. Luật sư cần xác định đúng thân chủ của mình thuộc diện thừa kế, hàng thừa kế nào theo pháp luật. Khoản 3 Điều 679 Bộ luật Dân sự quy định nguyên tắc thừa kế theo pháp luật: Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, truất quyền hưởng thừa kế hoặc từ chối nhận di sản.Theo quy định của BLDS, di sản được chia theo pháp luật được áp dụng trong một số trường hợp sau: Không có di chúc, di chúc không hợp pháp, những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, cơ quan tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế, những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản thừa kế hoặc họ từ chối quyền hưởng di sản.Trong trường hợp chia thừa kế theo di chúc, còn những phần di sản không được định đoạt trong di chúc, phần di sản liên quan đến phần di chúc không có hiệu lực, hoặc phần di sản bị từ chối không hưởng hoặc của cá nhân được chỉ định làm người thừa kế chết cùng thời điểm với người lập di chúc hoặc phần di sản thuộc di chúc của tổ chức, cơ quan mà họ không tồn tại vào thời điểm mở thừa kế, thì những phần di sản đó được chia theo pháp luật.Luật sư lưu ý, phần nghĩa vụ trong các trường hợp nêu trên (nếu có) thì cũng được chia theo pháp luật phù hợp với tỉ lệ theo kỉ phần những ai được hưởng di sản theo pháp luật.Chia thừa kế theo pháp luật là chia di sản của người để lại thừa kế thành những phần bằng nhau cho những người cùng hàng thừa kế.Luật sư cần lưu ý Điều 680 Bộ luật Dân sự quy định về thừa kế thế vị. Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước người để lại di sản, thì cháu được hưởng phần di sản mà cha mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng đã chết trước người để lại di sản, thì chắt được hưởng nếu như còn sống.Chia thừa kế theo pháp luật, không chỉ bao hàm chia di sản mà còn phân chia nghĩa vụ của người để lại di sản cho người hưởng thừa kế tỷ lệ nghĩa vụ theo kỷ phần di sản của người đó được hưởng.Đặc biệt Luật sư cần lưu ý, pháp luật dân sự nước ta trong chế định thừa kế đã chủ động bảo vệ lợi ích cho trẻ em có hoàn cảnh éo le, được nhận làm con nuôi theo quy định con nuôi và cha mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau, ngoài ra người con nuôi cũng được hưởng di sản thừa kế của cha mẹ đẻ ở hàng thứ nhất thừa kế theo pháp luật (Điều 679 – BLDS).Để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng cho thân chủ của mình, Luật sư cần lưu ý, nếu thân chủ sinh ra và sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản thừa kế chết sẽ là người thừa kế hợp pháp theo quy định của BLDS không phụ thuộc vào hình thức chia thừa kế theo di chúc (nếu như người để lại di sản lập di chúc cho người đó được hưởng thừa kế), hay thừa kế theo pháp luật. Theo Điều 638 – BLDS vào thời điểm mở thừa kế người đó chưa sinh ra, thì phần di sản được thừa kế của người đó theo di chúc hoặc theo pháp luật được giữ lại giao cho người quản lý di sản thừa kế, khi sinh ra còn sống thì người đó được nhận lại di sản từ người quản lý di sản thừa kế. Di sản và lợi ích có được từ di sản tuân theo quy định tại các Điều 641,642,643 – BLDS.Trong cuộc sống hiện nay, không ít những tranh chấp thừa kế nẩy sinh từ quan hệ giữa con riêng, bố dượng, mẹ kế. Trong trường hợp thân chủ là một trong những đối tượng trên, Luật sư cần tìm hiểu, thu thập mọi chứng cứ cần thiết và khách quan để chứng minh quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con. Đây là những chứng cứ quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích cho thân chủ của mình. Bởi lẽ nếu chứng minh được có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng như cha con, mẹ con thì không những được hưởng di sản của nhau mà còn được hưởng thừa kế di sản theo hàng thừa kế mà pháp luật đang quy định (Điều 679 – BLDS) và thừa kế thế vị quy định ở Điều 680 – BLDS.Trường hợp thân chủ là nguyên đơn trong tranh chấp có yêu cầu thì những người được chia thừa kế theo luật do quan hệ con riêng – bố dượng, mẹ kế thì luật sư cũng cần khách quan khai thác và thu thập chứng cứ để chứng minh giữa họ không có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng như cha con, mẹ con. Chỉ có những chứng cứ khách quan đó nới đủ sức thuyết phục và bảo vệ quyền lợi cho thân chủ của mình với tư cách là nguyên đơn dân sự trong các vụ tranh chấp thừa kế.

2. Kỹ năng của Luật sư tại phiên toà giải quyết vụ việc về tranh chấp thừa kế.Do những đặc thù của quan hệ tranh chấp về thừa kế (như đã nêu phần một), Luật sư cần phải lập kế hoạch bảo vệ, dự kiến các tình huống, đặt trước những câu hỏi để làm sáng tỏ những vấn đề chính của vụ án. Tại các phiên toà giải quyết các vụ việc loại này Luật sư cần hết sức bình tĩnh, tự tin để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ của mình. Hiển nhiên Luật sư có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nhiều thân chủ trong một vụ án, miễn sao quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau.Để đạt được mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ, trước hết Luật sư phải tuân thủ những quy định, thủ tục của phiên toà. Phải tôn trọng pháp luật và chỉ được phép sử dụng những biện pháp mà pháp luật cho phép để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.Khi tham gia phiên toà, Luật sư cần chứng tỏ mình là người có văn hoá pháp đình; phẩm chất đó được thể hiện một cách cụ thể trong tác phong đi đứng, tư thế ngồi, trong lời ăn tiếng nói, thậm chí từ ánh mắt nhìn. Luật sư cần nhã nhặn, khiêm nhường nhưng không khúm núm, kiên định giữ nguyên tắc nhưng không kiêu căng, ngạo mạn; lập luận hùng hồn có sức thuyết phục, phủ định những ý kiến khác, nhưng không gây căng thẳng.Đặc biệt do đặc thù của quan hệ tranh chấp thừa kế – thường là quan hệ giữa những người là bà con ruột thịt, cùng họ tộc, khi bảo vệ quyền lợi cho thân chủ, Luật sư cần tránh làm tổn thương đến tình cảm của các đương sự có quyền lợi đối lập, mâu thuẫn với quyền, lợi ích của thân chủ mình. Ngay cả khi trong phần thẩm vấn, sau khi Hội đồng xét xử hoặc kiểm sát viên hỏi, đến lượt mình Luật sư cần phải bình tĩnh, khéo léo đặt ra các câu hỏi cho các đối tượng cần thiết phải thẩm vấn nhằm xác định một cách đầy đủ các tình tiết của vụ án và bình tĩnh lắng nghe sự trình bày của họ, tránh nôn nóng, phủ định và tránh đưa câu hỏi dồn ép một ai gây sự căng thẳng không cần thiết.Tuy nhiên, cũng như đối với bất kỳ một vụ án nào, với vụ việc tranh chấp thừa kế thì phần tranh luận tại phiên toà là hết sức quan trọng đặc biệt đối với Luật sư.Khi đã qua phần thẩm vấn tại phiên toà, ở phần tranh luận, Luật sư bằng kiến thức hiểu biết pháp luật, qua nghiên cứu hồ sơ, thu thập chứng cứ, lập luận lôgíc bài bảo vệ sẽ có tính khoa học, có sức thuyết phục cao đóng góp những ý kiến của mình đánh giá chứng cứ, đặc biệt Luật sư cần phải đề xuất hướng giải quyết vụ án trên cơ sở khách quan, đúng pháp luật vì lợi ích cho thân chủ của mình.Hơn hết tất cả các giai đoạn tố tụng, phần tranh luận là thời điểm Luật sư thể hiện tài năng và bản lĩnh nghề nghiệp. Luật sư cần phải có chiến lược và sách lược đúng đắn trong một qui trình Hội đồng xét xử tiến hành xét xử. Sự bình tĩnh, tự tin, ứng biến mau lẹ, lập luận sắc bén là con đường đưa Luật sư đến chiến thắng. ở giai đoạn này, Luật sư phải sử dụng tất cả các kỹ năng như dự đoán, tổng hợp, phân tích và quyết định thì mới hoàn thành được sứ mạng của mình.Lưu ý, nếu trong giai đoạn tranh luận mà có tình huống mới, chưa được dự kiến trước hoặc tình tiết mới của vụ án xuất hiện thì Luật sư nên bàn bạc với thân chủ rồi sau đó mới phát biểu gợi ý, hướng dẫn hoặc giúp đỡ thân chủ bày tỏ ý kiến. Trường hợp cần thiết thì đề nghị Hội đồng xét xử cho thẩm vấn lại hoặc đề nghị hoãn phiên tòa để tiến hành điều tra lại hoặc điều tra bổ sung.Khi chủ toạ phiên toà tuyên án, Luật sư phải chú ý lắng nghe bản án, khi cần thiết thì hướng dẫn thân chủ kháng cáo đúng hạn.Với tư cách là người trợ giúp pháp lý đắc lực nhất, Luật sư đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ công lý, ở đó Luật sư một mặt bảo vệ quyền lợi của thân chủ thông qua việc tham gia tích cực trong các giai đoạn tố tụng, mặt khác việc đưa ý kiến hợp lý, hợp tình của Luật sư sẽ tăng thêm niềm tin của các thành viên Hội đồng xét xử trong việc đưa ra các phán quyết để giải quyết tranh chấp phù hợp với pháp luật và hợp lẽ công bằng.Trong vụ việc tranh chấp thừa kế, sự tham gia của Luật sư không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi chính đáng cho thân chủ của mình phù hợp với pháp luật và thuần phong mỹ tục của dân tộc mà còn từ đó góp phần ổn định và phát triển của xã hội.

Liên hệ sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật:

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi: CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ luật sư tư vấn luật, gọi: 1900.6162

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Thời hiệu khởi kiện tranh chấp thừa kế xác định thế nào ?

Chị V. (huyện Cai Lậy, Tiền Giang) là cháu kêu vợ chồng ông L. là bác ruột. Ông nội chị V. mất từ năm 1975, còn bà nội mất vào tháng 6-1995. Năm 2003, chị V. khởi kiện yêu cầu bác ruột trả lại tài sản là quyền sử dụng đất do ông bà nội chết để lại. Năm 2005, khi TAND tỉnh Tiền Giang xử phúc thẩm vụ án, chị V. thay đổi yêu cầu khởi kiện thành “xin hưởng thừa kế thế vị của cha đối với tài sản do bà nội chết để lại”.

Đối với người thừa kế chưa thành niên, thời hiệu khởi kiện đòi chia di sản thừa kế là 10 năm tính từ ngày đương sự trưởng thành. Việc xác định tài sản rối đến mức vụ án đã qua ba lần sơ thẩm, ba lần phúc thẩm nhưng đến nay vẫn chưa kết thúc vì bị cấp giám đốc thẩm hủy án. Riêng cách tính thời hiệu khởi kiện dành cho chị V. cũng khác nhau giữa các cấp tòa.

Tranh chấp thừa kế: Thời hiệu khởi kiện tính theo tuổi

Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai trực tuyến qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Không tính thời gian chưa trưởng thành

Ông bà nội chị V. có bốn người con ruột. Trong đó, bác cả và cha của chị V. đã mất trước bà nội. Bác cả có ba người con ruột nên theo luật, họ cũng thuộc trường hợp thừa kế thế vị tương tự như chị V.

Khi chị V. thay đổi yêu cầu khởi kiện, TAND huyện Cai Lậy giải quyết vụ án lại từ đầu và tính lại thời hiệu khởi kiện về thừa kế. Theo luật định, thời hiệu này là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm người để lại di sản mất). Bà nội chị V. mất từ tháng 6-1995, tính đến tháng 6-2005 thì thời hiệu khởi kiện đã hết. Trong khi đó, chị V. đổi yêu cầu khởi kiện thành chia thừa kế tại phiên xử phúc thẩm diễn ra vào tháng 8-2005. Nghĩa là vào tháng 8-2005, chị V. mới kiện thừa kế.

Vào thời điểm bà mất, ba người chị họ của chị V. đều đạt tuổi trưởng thành. Trong 10 năm tính từ tháng 6-1995 đến tháng 6-2005, họ đều không kiện thừa kế nên thời hiệu khởi kiện không còn. Riêng chị V. thì thời hiệu vẫn còn. Theo TAND huyện Cai Lậy, khi bà nội mất thì chị V. chỉ mới 15 tuổi. Quyền khởi kiện chia thừa kế dành cho chị là 10 năm không tính từ lúc bà nội mất mà tính từ năm chị trưởng thành, tức từ năm 1998 đến năm 2008.

Hủy án vì nhận định chưa đủ

Tháng 4-2008, TAND tỉnh Tiền Giang xử phúc thẩm vụ án và giải thích rõ hơn cách tính thời hiệu này. Theo khoản 2 Điều 161 Bộ luật Dân sự năm 2005, khi người có quyền khởi kiện nhưng chưa thành niên và chưa có người đại diện thì khoảng thời gian đó không tính vào thời hiệu khởi kiện.

Bảy tháng sau, viện trưởng VKSND tối cao ký quyết định kháng nghị bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Tiền Giang vì cấp phúc thẩm đã áp dụng luật không đúng. Khi bà nội mất, chị V. đã về ở với mẹ tại TP.HCM, nghĩa là có người đại diện. Như vậy, chị V. không được hưởng sự loại trừ về thời gian như quy định của điều luật nêu trên.

Tuy nhiên, áp dụng Nghị quyết 02 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao, viện trưởng VKSND tối cao lại xác định chị V. đã khởi kiện trong thời hiệu. Vì lẽ chị đã gửi tòa đơn đòi tài sản thừa kế từ năm 2003 và thay đổi yêu cầu khởi kiện vào năm 2005. Tính từ ngày bà nội mất đến khi chị V. nộp đơn (năm 2003) thì chưa quá 10 năm.

Cuối năm 2008, Tòa dân sự TAND tối cao mở phiên họp giám đốc thẩm và cho rằng cách nhận định của viện trưởng VKSND tối cao là không chính xác. Nghị quyết số 02 năm 2006 áp dụng đối với trường hợp sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện trước khi tòa thụ lý vụ án. Trong khi đó, chị V. thay đổi yêu cầu khởi kiện từ “tranh chấp đòi tài sản thừa kế” sang “tranh chấp về thừa kế”. Vì vậy, thời hiệu phải được tính theo ngày chị V. có yêu cầu khởi kiện mới.

Tuy nhiên, hội đồng giám đốc thẩm cũng xác định thời hiệu khởi kiện dành cho chị V. vẫn còn. Hồ sơ vụ án có ba đơn của chị V. cùng đề năm 2003 gồm: Đơn kiện đòi quyền sử dụng đất, đơn khởi kiện tranh chấp thừa kế, đơn yêu cầu ngăn chặn bác ruột làm thủ tục cấp giấy đỏ. Như vậy, chị V. đã khởi kiện tranh chấp về thừa kế ngay từ năm 2003. TAND huyện Cai Lậy thụ lý vụ án “tranh chấp đòi tài sản thừa kế” là không đúng với yêu cầu khởi kiện của chị.

Do bản án sơ thẩm và phúc thẩm đều bị hủy nên sắp tới đây, TAND huyện Cai Lậy lại phải mở phiên tòa để sơ thẩm lại lần thứ tư đối với vụ án này.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Tranh chấp thừa kế khởi kiện ra tòa được không ?

Vì án tuyên có nhiều điểm chưa rõ nên cơ quan thi hành án liên tục có văn bản đề nghị giải thích. Nhưng cứ mỗi lần giải thích, Tòa lại đưa ra một quan điểm khác nhau khiến việc thi hành án đã “rối”… lại càng thêm “rối”.

Không phải di sản thừa kế: Vẫn chia?

Vợ chồng cụ Nguyễn Văn Liên và Cao Thị Ba ở xóm 10 xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội có 3 người con là bà Nguyễn Thị Cận, Nguyễn Thị Tiến và Nguyễn Thị Vy. Cụ Liên mất năm 1975. Năm 1989, cụ Ba làm đơn đề nghị chia tài sản và tại bản án số 38/DSPT, TAND TP. Hà Nội đã chia cho cụ Ba 02 gian nhà xây lợp ngói cùng toàn bộ tài sản, vườn cây trên thửa đất thẳng theo 2 gian nhà. Sau khi bản án có hiệu lực, cụ Ba viết giấy cho con gái út là bà Nguyễn Thị Vy toàn bộ nhà đất nói trên. Năm 1992, cụ Ba mất và bà Vy cũng mất sau đó 2 năm.

Tháng 2.2002, bà Nguyễn Thị Tiến (con gái thứ 2 của cụ Ba) và chị Nguyễn Thị Hoa (cháu ngoại cụ Ba -con gái của bà Nguyễn Thị Cận -PV) kiện đòi chia di sản thừa kế của cụ Ba.

Án lệ số 06/2016/AL về vụ án “Tranh chấp thừa kế”

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Khi xét xử, tuy công nhận giấy cho nhà đất của cụ Ba cho bà Vy là có thật nhưng TAND huyện Từ Liêm (cấp sơ thẩm) và TAND TP.Hà Nội (cấp phúc thẩm) vẫn xác định nhà, đất đó là di sản của cụ Ba và chia thừa kế cho bà Tiến và chị Hoa. Cụ thể, bản án số 138/DSPT ngày 14+15.6.2004 của TAND TP.Hà Nội tuyên: “Chia cho bà Tiến phần đất (hiện chị Hoàng Thu Hằng -con gái bà Vy-đang quản lý) có chiều rộng giáp mặt đường 69 là 3m, chiều rộng phía trong giáp ngõ nhà ông Ba Kỳ và ông Mai là 2, 1m. Tính từ điểm tiếp giáp đất nhà ông Liên kéo về phía tay phải (đứng từ đường nhìn vào). Chiều dài từ mặt đường 69 kéo hết đất. Diện tích là 45m2; Chia cho chị Hoa 01 gian nhà cấp 4 (hiện ông Nguyễn Hồng Tuệ -chồng bà Vy đang quản lý) và 10m2 tường rào nằm trên mảnh đất có chiều rộng giáp mặt đường 69 là 2,55m, chiều rộng giáp ngõ đi đằng sau 2, 5m tính từ điểm tiếp giáp đất nhà chị Hoa kéo về phía bên tay trái (đứng từ đường nhìn vào) chiều dài hết đất là 18,4m, diện tích bằng 46,5m”.

Càng giải thích, càng “rối”!!!

Khi thụ lý đơn đề nghị thi hành bản án nói trên, cơ quan thi hành án (THA) dân sự huyện Từ Liêm mới phát hiện ra nhiều điểm rắc rối. Trong khi án tuyên chia cho bà Tiến phần đất có chiều rộng giáp mặt đường là 3m thì thực tế chỉ đo được có 2,65m; chiều rộng phía trong cũng bị hụt mất 0, 1m. Bản án số 138 xác định chiều rộng phía trong giáp ngõ nhà ông Ba Kỳ và ông Mai nhưng thực tế chỉ giáp công trình phụ nhà ông Ba Kõ, không có chỗ nào giáp nhà ông Mai. Trên thực tế cũng không có nhà ông Liên nào như bản án đã đề cập tới…

Cực chẳng đã, THA Từ Liêm phải làm văn bản đề nghị TAND TP.Hà Nội giải thích bản án. Lần thứ nhất, TAND TP.Hà Nội chỉ “nhắc lại” nội dung của bản án đã tuyên. Lần thứ hai (Công văn số 2060 ngày 13.10.2007), Tòa cung cấp biên bản xem nhà được lập năm 2000 (khi tòa còn chưa thụ lý vụ án -PV) là căn cứ xác định vị trí đất??? Lần thứ ba, Tòa này còn “táo bạo” hơn khi thay đổi nội dung bản án số 138, cụ thể tại Công văn số 337 ngày 28.3.2008 có đoạn: “phần chiều rộng phía trong giáp đất nhà ông Ba Kỳ là 2, 1m tính từ điểm tiếp giáp đất nhà anh Thanh (con ông Liên) kéo về phía tay phải…” Trong khi đó việc giải thích bản án chỉ được phép làm rõ hơn những điểm còn chưa rõ chứ không được phép thay đổi nội dung của bản án! Với cách giải thích “tiền hậu bất nhất” này, THA Từ Liêm sẽ phải thi hành theo bản án hay theo Công văn?

Sở dĩ bản án đến nay vẫn chưa thi hành được là do án tuyên không rõ ràng. Chính vì các cấp Tòa đã không xác minh cụ thể nên mới đưa ra phán quyết khác xa so với thực tế như vậy!

Sau khi báo đăng, PV ĐS &PL nhận được thông tin Phó Chủ tịch UBND huyện Từ Liêm kiêm Trưởng ban chỉ đạo Thi hành án (THA) dân sự huyện vừa ký công văn gửi Chánh án TAND TP.Hà Nội, Chánh án TANDTC đề nghị xem xét lại bản án số 138 nói trên.

Như đã phản ánh, do án tuyên không đúng thực tế nên THA huyện đã phải 4 lần làm công văn đề nghị Tòa giải thích. Nhưng mỗi lần Tòa lại giải thích một kiểu khác nhau và lần giải thích cuối cùng lại khác với nội dung bản án. Vấn đề ở chỗ THA Từ Liêm không biết phải thi hành theo bản án hay theo công văn giải thích bản án của TAND TP.Hà Nội?

Hơn nữa, ngày 18.5.2009, khi THA Từ Liêm khảo sát thực tế mới nhận thấy phần đất mà bản án đã chia cho bà Tiến (có vị trí tiếp giáp ngõ nhà ông Ba Kỳ và ông Mai, chiều rộng phía trong là 2,1m) lại chính là phần đất thẳng gian nhà mà bản án này đã chia cho chị Hoa. Điều này có nghĩa là thực tế chỉ có một phần đất nhưng bản án số 138 của TAND TP. Hà Nội lại chia cho cả bà Tiến lẫn chị Hoa???

Được biết sáng ngày 8.8.2009, THA Từ Liêm đã tổ chức cưỡng chế buộc ông Nguyễn Hồng Tuệ phải trả cho chị Hoa “01 gian nhà cấp 4 (hiện ông Tuệ đang quản lý) và10m2 tường rào nằm trên mảnh đất có chiều rộng giáp mặt đường 69 là 2,55m, chiều rộng giáp ngõ đi đằng sau là 2, 5m tính từ điểm tiếp giáp đất nhà chị Hoa kéo về phía bên tay trái (đứng từ đường nhìn vào) chiều dài hết đất là 18,4m, diện tích bằng 46, 5m2″. Theo phản ánh của chị Hoàng Thu Hằng thì việc cưỡng chế này ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của chị bởi sắp tới nếu bà Tiến yêu cầu THA, thì chị sẽ lấy đâu ra phần đất có chiều rộng phía trong là 2, 1m để trả cho bà Tiến như bản án đã tuyên?

Hy vọng những khúc mắc này sẽ được Chánh án TAND TP. Hà Nội, Chánh án TANDTC xem xét, giải quyết.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Án lệ về “Tranh chấp thừa kế”

Án lệ số 06/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Án lệ số 06/2016/AL

Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 100/2013/GĐT-DS ngày 12-8-2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp thừa kế” tại Hà Nội, giữa nguyên đơn là ông Vũ Đình Hưng với bị đơn là bà Vũ Thị Tiến (tức Hiền), bà Vũ Thị Hậu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông, bà Vũ Đình Đường, Vũ Thị Cẩm, Vũ Thị Thảo, Nguyễn Thị Kim Oanh, Hà Thùy Linh.

Khái quát nội dung của án lệ:

Trong vụ án tranh chấp thừa kế có người thuộc diện thừa kế ở nước ngoài, nếu Tòa án đã thực hiện ủy thác tư pháp, thu thập chứng cứ theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn không xác định được địa chỉ của những người đó thì Tòa án vẫn giải quyết yêu cầu của nguyên đơn; nếu xác định được di sản thừa kế, diện hàng thừa kế và người để lại di sản thừa kế không có di chúc thì giải quyết việc chia thừa kế cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật; phần tài sản thừa kế của những người vắng mặt, không xác định được địa chỉ sẽ tạm giao cho những người sống trong nước quản lý để sau này giao lại cho những thừa kế vắng mặt.

Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:

- Điều 93; điểm đ khoản 1 Điều 168 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004;

- Điều 676 và 685 của Bộ luật dân sự năm 2005.

Từ khóa của án lệ:

“Tranh chấp di sản thừa kế”; “Người thừa kế ở nước ngoài chưa rõ địa chỉ”; “Ủy thác tư pháp”; “Phân chia di sản”; “Quản lý di sản”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện tháng 7 năm 1993, nguyên đơn là ông Vũ Đình Hưng trình bày:

Cha mẹ ông là cụ Vũ Đình Quảng và cụ Nguyễn Thị Thênh sinh được 6 người con là ông Vũ Đình Đường, bà Vũ Thị Cẩm, bà Vũ Thị Thảo, ông Vũ Đình Hưng, bà Vũ Thị Tiến (tức Hiền) và bà Vũ Thị Hậu. Cụ Quảng và cụ Thênh tạo lập được căn nhà số 66 phố Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, diện tích 123m

2. Năm 1979, cụ Quảng chết không để lại di chúc, căn nhà do cụ Thênh và 3 con là ông Hưng, bà Hậu, bà Tiến ở; ông Đường, bà Thảo và bà Cẩm đều xuất cảnh đi nước ngoài. Tại biên bản họp gia đình ngày 28-10-1982, cụ Thênh và ông, bà Tiến, bà Hậu thỏa thuận tạm thời phân chia nhà thành 3 phần cho ông, bà Hậu và bà Tiến sử dụng. Năm 1987, cụ Thênh chết. Sau đó năm 1989, bà Tiến đã lén lút bán phần nhà được tạm chia cho bà Nguyễn Thị Kim Oanh. Khi ông đã có đơn khởi kiện chia thừa kế ra Tòa án rồi nhưng ngày 31-10-1993, bà Hậu đã bán tiếp phần nhà bà Hậu được tạm chia cho bà Hà Thùy Linh. Việc mua bán nhà này là sai. Ông xác định được 3 anh chị em đang ở nước ngoài (là ông Đường, bà Cẩm và bà Thảo) có văn bản cho ông hưởng phần thừa kế nên yêu cầu chia thừa kế di sản của cha mẹ ông theo pháp luật.

Ông Hưng xuất trình bản photocopy các giấy ủy quyền lập ngày 03-3-1992 của ông Vũ Đình Đường, ngày 1-5-1993 của bà Vũ Thị Cẩm, ngày 28-10-1991 của bà Vũ Thị Thảo đều có nội dung ủy quyền cho ông Hưng quản lý trông nom phần tài sản của mình trong nhà 66 Đồng Xuân là 1/6 nhà. Sau khi nộp đơn khởi kiện, ông Hưng xuất trình thêm các “Giấy chuyển hẳn cho quyền thừa kế” đề ngày 25-4-1995 của ông Vũ Đình Đường; “Giấy chuyển hẳn cho quyền thừa kế” đề ngày 10-5-1995 của bà Vũ Thị Cẩm; “Giấy cho hẳn quyền thừa kế” của bà Vũ Thị Thảo; các văn bản này đều ghi là lập tại nước ngoài, đều có nội dung xác nhận: cha mẹ để lại ngôi nhà 66 Đồng Xuân cho 6 người con nhưng bà Tiến (Hiền) và bà Hậu đã bán phần nhà của cha mẹ để lại là vi phạm lời dặn của mẹ (không được bán, cho người ngoài vào ở)... Ông Đường và bà Thảo, bà Cẩm làm giấy này cho hẳn ông Hưng 1/6 ngôi nhà 66 Đồng Xuân phần mỗi người được hưởng thừa kế để ông Hưng duy trì thờ cúng tổ tiên và cũng để ba gia đình con cháu người ở nước ngoài có nơi đi lại thờ cúng tổ tiên và đề nghị cho ông Hưng được hưởng thừa kế bằng hiện vật (các tài liệu ông Hưng xuất trình đều chỉ là bản photocopy).

Bị đơn trình bày:

Bà Vũ Thị Tiến trình bày: Xác nhận về quan hệ huyết thống và nguồn gốc căn nhà 66 Đồng Xuân như ông Hưng trình bày. Năm 1989, bà đã bán phần được chia cho bà Oanh, đã giao nhà và đã làm xong thủ tục mua bán nhà tại Sở Nhà đất Hà Nội cho người mua. Sau khi đến ở, bà Oanh còn có thỏa thuận với ông Hưng, bà Hậu hoán đổi một số công trình trong nhà để các bên sử dụng thuận tiện hơn. Sau đó do ông Hưng khiếu nại nên Sở Nhà đất đã thu hồi hồ sơ mua bán nhà giữa bà và bà Oanh. Bà Hậu cũng đã bán phần nhà được chia cho người khác. Bà xác định cụ Thênh đã cho tiền 3 người đi nước ngoài nên họ không có yêu cầu gì về nhà này. Bà đã bán phần nhà của mình cho bà Oanh, nay bà không có trách nhiệm gì về phần nhà đã bán.

Bà Vũ Thị Hậu trình bày: Xác nhận về quan hệ huyết thống và nguồn gốc căn nhà 66 Đồng Xuân như ông Hưng trình bày và việc phân chia nhà cũng như việc bà Tiến đã bán một phần như bà Tiến trình bày. Bà xác định khi bán có thông báo cho anh chị ở nước ngoài và họ đều đồng ý. Bà đề nghị chia cho bà vào phần nhà bà đã bán cho vợ chồng bà Linh, ông Khôi.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

Vợ chồng bà Hà Thùy Linh và ông Hoàng Mạnh Khôi trình bày: Khi ông bà mua nhà, bà Hậu có cho xem biên bản họp gia đình, nên ông bà mới nhất trí mua. Ông bà đã trả đủ tiền, dọn đến ở từ đó đến nay, yêu cầu được hợp pháp hóa phần nhà đã mua của bà Hậu.

Bà Nguyễn Thị Kim Oanh trình bày: Ngày 18-10-1992, bà có mua nhà của bà Tiến được chia, giá 30.000.000 đồng. Việc mua bán đã được chính quyền cho phép. Sau khi mua nhà, bà đã về ở, có thỏa thuận hoán đổi một số vị trí sử dụng nhà cho ông Hưng, đề nghị công nhận hợp đồng mua bán nhà giữa bà Tiến với bà.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 20/DSST ngày 23-5-1995, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã chấp nhận yêu cầu xin chia thừa kế của ông Hưng, ông Đường, bà Cẩm, bà Thảo do ông Hưng đại diện xin chia di sản thừa kế của cụ Quảng và cụ Thênh. Chấp nhận một phần bản di chúc của cụ Thênh lập ngày 28-10-1982, xác định di sản thừa kế trị giá 1.228.151.520 đồng, chia thừa kế bằng hiện vật nhà, đất cho 3 người là ông Hưng, bà Hậu và bà Tiến. Việc mua bán giữa bà Tiến, bà Hậu với bà Oanh, bà Linh được thực hiện theo quy định của nhà nước.

Bà Tiến kháng cáo đề nghị xem xét lại cách tính diện tích di sản thừa kế. Ông Hưng kháng cáo cho rằng Tòa án xử không khách quan.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 115 ngày 10-10-1995, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội quyết định: Hủy Bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết sơ thẩm lại.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 50/DSST ngày 11-9-1996, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định chấp nhận yêu cầu xin chia thừa kế của ông Hưng, ông Đường, bà Cẩm, bà Thảo do ông Hưng làm đại diện xin chia di sản thừa kế của cụ Quảng và cụ Thênh; ghi nhận sự tự nguyện của ông Đường, bà Cẩm, bà Thảo ở nước ngoài nhường kỷ phần thừa kế cho ông Hưng và chia hiện vật cho ông Hưng, bà Hậu, bà Tiến (mỗi người 1/3 cửa hàng và phần nhà phía sau), bà Hậu, bà Tiến phải thanh toán chênh lệch cho ông Hưng (bà Hậu 156.824.381 đồng; bà Tiến 140.774.106 đồng). Việc mua bán nhà giữa bà Tiến, bà Hậu với bà Oanh, bà Linh là trái pháp luật.

Ông Hưng kháng cáo.

Tại Quyết định số 82/TĐC ngày 15-7-1997, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án.

Sau khi có Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27-7-2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã tiếp tục giải quyết vụ án.Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 142/2007/DSPT ngày 03-7-2007, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã hủy Bản án sơ thẩm và giao Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết sơ thẩm lại vụ án với nhận định: Đơn khởi kiện chỉ có ông Hưng viết và ký, các giấy ủy quyền của ông Đường, bà Thảo, bà Cẩm đều không thể hiện là ủy quyền khởi kiện chia thừa kế (trừ giấy của bà Thảo), nay các đương sự thừa nhận ông Đường, bà Thảo đều đã chết, nên cần xác minh việc này và đưa người thừa kế của họ tham gia tố tụng; định giá lại nhà đất cho phù hợp.

Sau khi thụ lý lại vụ án, đương sự trình bày: ông Đường và bà Thảo đã chết vào khoảng năm 2002. Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu ông Hưng cung cấp giấy chứng tử của ông Đường và bà Thảo, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 164 Bộ luật tố tụng dân sự (họ tên, địa chỉ, quốc tịch của các con ông Đường, bà Thảo; tên, địa chỉ của người đang ở tại phần nhà đất tranh chấp) nhưng ông Hưng không cung cấp được.

Tại Quyết định số 04/2008/QĐST-DS ngày 17-01-2008, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã đình chỉ việc giải quyết vụ án, trả tạm ứng án phí cho ông Hưng. Ngày 29-01-2008, ông Hưng kháng cáo cho rằng Tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án là không đúng.

Tại Quyết định số 168/2008/DS-QĐPT ngày 04-9-2008, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã chấp nhận kháng cáo của ông Hưng, hủy quyết định sơ thẩm với lý do: cấp sơ thẩm áp dụng khoản 2 Điều 192 đình chỉ việc giải quyết vụ án là không đúng, làm mất quyền khởi kiện của đương sự.

Sau khi thụ lý lại vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã yêu cầu ông Hưng cung cấp các tài liệu là tên, tuổi, địa chỉ người thừa kế của ông Đường, bà Thảo; văn bản ủy quyền hoặc từ chối nhận thừa kế của những người này; tên và địa chỉ những người đang ở tại nhà đất của bà Oanh. Ông Hưng không cung cấp được các tài liệu trên.

Tại Quyết định số 54/DS-ST ngày 30-9-2009, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định: Đình chỉ giải quyết vụ án chia thừa kế, trả lại đơn kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo cho ông Hưng.

Ông Hưng kháng cáo.

Tại Quyết định số 44/2010/QĐ-PT ngày 09-3-2010, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội quyết định: Giữ nguyên quyết định sơ thẩm.

Ông Hưng có đơn đề nghị giám đốc thẩm. Tại Quyết định số 35/2013/KN-DS ngày 22-01-2013, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị

Quyết định số 44/2010/QĐ-PT ngày 09-3-2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội. Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy Quyết định dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 54/2009/DS-ST ngày 30/9/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận định:

Căn nhà số 66 phố Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội do cụ Vũ Đình Quảng (chết năm 1979) và Nguyễn Thị Thênh (chết năm 1987) tạo lập. Các cụ sinh được 6 người con thì 3 người là ông Vũ Đình Đường, bà Vũ Thị Cẩm, bà Vũ Thị Thảo định cư ở nước ngoài từ năm 1979, còn 3 người ở trong nước là ông Vũ Đình Hưng, bà Vũ Thị Tiến (Hiền), bà Vũ Thị Hậu. Sau khi cụ Quảng chết chỉ còn cụ Thênh, ông Hưng, bà Tiến, bà Hậu quản lý căn nhà này. Sau khi cụ Thênh chết, ông Hưng, bà Tiến và bà Hậu đã tự phân chia căn nhà thành 3 phần để ở. Ngày 18-10-1992, bà Tiến bán phần nhà đang sử dụng cho bà Nguyễn Thị Kim Oanh và ngày 31-10-1993 bà Hậu bán tiếp phần nhà bà đang ở cho bà Hà Thùy Linh.

Năm 1993, ông Hưng khởi kiện yêu cầu chia thừa kế nhà đất của cha mẹ nêu trên theo pháp luật. Việc giải quyết vụ án kéo dài từ năm 1993 đến 1996 và bị tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm năm 1997. Năm 2007, vụ án được thụ lý lại.

Khi giải quyết vụ án, trước giai đoạn tố tụng tạm đình chỉ (1997), ông Hưng đã cung cấp các đơn, giấy ủy quyền lập năm 1991, 1992, 1993, 1994 của ông Đường, bà Cẩm, bà Thảo có nội dung giao cho ông Hưng trông coi quản lý tài sản thừa kế phần của họ trong di sản thừa kế là nhà đất số 66 phố Đồng Xuân; sau đó ông Hưng lại cung cấp các văn bản lập năm 1995 của ông Đường, bà Thảo và bà Cẩm có nội dung cho hẳn ông Hưng phần thừa kế của mình trong tài sản tranh chấp. Các văn bản đều có tem và con dấu của nước sở tại (ông Đường ở Anh, bà Cẩm ở Pháp và bà Thảo ở Mỹ), nhưng chỉ là bản photocopy. Tuy nhiên, các đương sự đều ghi rõ số nhà, địa chỉ của người viết văn bản. Trong quá trình thụ lý giải quyết lại vụ án sau giai đoạn tạm đình chỉ, ông Hưng, bà Tiến, bà Hậu đều khai ông Đường, bà Thảo đã chết khoảng năm 2002, ông Hưng xác định địa chỉ của bà Cẩm, bà Thảo không thay đổi, còn ông đã liên lạc với con ông Đường nhưng không nhận được hồi âm (bút lục 376, 377, 382). Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu ông Hưng phải cung cấp chứng tử của ông Đường, bà Thảo; tên, địa chỉ của con ông Đường, bà Thảo. Ông Hưng khai không cung cấp được và đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ để giải quyết theo pháp luật (bút lục 390). Như vậy, trong hồ sơ đã có địa chỉ của những người đã sống ở nước ngoài, còn việc yêu cầu ông Hưng cung cấp chứng tử của ông Đường bà Thảo là không cần thiết, vì cả ba người ở trong nước đều xác nhận hai người này đã chết. Lẽ ra, Tòa án cấp sơ thẩm phải thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp theo quy định, thu thập chứng cứ đối với ông Đường, bà Thảo để làm rõ thời điểm những người này chết và nếu hai người chết này còn có người thừa kế thì hỏi họ về quan điểm giải quyết vụ án. Tùy từng trường hợp căn cứ chứng cứ mới để giải quyết vụ án theo quy định. Nếu không thu thập được chứng cứ gì hơn thì vẫn phải giải quyết yêu cầu của ông Hưng để được hưởng thừa kế theo pháp luật, phần thừa kế của ông Đường bà Thảo sẽ tạm giao cho những người đang sống trong nước quản lý để sau này người thừa kế của họ có quyền hưởng theo pháp luật, như vậy mới giải quyết dứt điểm vụ án. Đối với những người đang sống tại phần nhà bà Tiến bán thì nghĩa vụ cung cấp tên tuổi của họ là của bà Tiến. Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu ông Hưng cung cấp tên tuổi của những người này là không đúng đối tượng. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng ông Hưng không cung cấp được tên, địa chỉ của con ông Đường, bà Thảo, người mua nhà của bà Oanh để đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng. Tòa án cấp phúc thẩm lẽ ra phải hủy quyết định sơ thẩm để giao giải quyết lại nhưng lại giữ nguyên quyết định sơ thẩm là không đúng. Ngoài ra, theo các tài liệu có trong hồ sơ và lời khai của ông Hoàng Mạnh Khôi ngày 17-10-2007 (bút lục 373) và “Giấy bán nhà” ngày 31-10-1993 (bút lục 18), thì bà Hậu bán phần nhà mà bà đang quản lý cho bà Hà Thùy Linh (chồng là ông Hoàng Mạnh Khôi). Quyết định sơ thẩm và phúc thẩm lại ghi là bà Nguyễn Thị Thùy Linh là không chính xác, cần điều chỉnh lại cho phù hợp.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy Quyết định số 44/2010/QĐ-PT ngày 09-3-2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 54/2009/DS-ST ngày 30-9-2009 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về vụ án tranh chấp thừa kế, giữa nguyên đơn là ông Vũ Đình Hưng với bị đơn là bà Vũ Thị Tiến, bà Vũ Thị Hậu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Vũ Đình Đường, bà Vũ Thị Cẩm, bà Vũ Thị Thảo, bà Nguyễn Thị Kim Oanh, bà Hà Thùy Linh.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết sơ thẩm lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

NỘI DUNG ÁN LỆ

“Lẽ ra, Tòa án cấp sơ thẩm phải thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp theo quy định, thu thập chứng cứ đối với ông Đường, bà Thảo để làm rõ thời điểm những người này chết và nếu hai người chết này còn có người thừa kế thì hỏi họ về quan điểm giải quyết vụ án. Tùy từng trường hợp căn cứ chứng cứ mới để giải quyết vụ án theo quy định. Nếu không thu thập được chứng cứ gì hơn thì vẫn phải giải quyết yêu cầu của ông Hưng để được hưởng thừa kế theo pháp luật, phần thừa kế của ông Đường bà Thảo sẽ tạm giao cho những người đang sống trong nước quản lý để sau này người thừa kế của họ có quyền hưởng theo pháp luật, như vậy mới giải quyết dứt điểm vụ án. Đối với những người đang sống tại phần nhà bà Tiến bán thì nghĩa vụ cung cấp tên tuổi của họ là của bà Tiến. Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu ông Hưng cung cấp tên tuổi của những người này là không đúng đối tượng. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng ông Hưng không cung cấp được tên, địa chỉ của con ông Đường, bà Thảo, người mua nhà của bà Oanh để đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng. Tòa án cấp phúc thẩm lẽ ra phải hủy quyết định sơ thẩm để giao giải quyết lại nhưng lại giữ nguyên quyết định sơ thẩm là không đúng.”

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Tranh chấp thừa kế đất đai thực hiện như thế nào ?

Đất đai mang lại hoa thơm quả ngọt cho đời. Đời người sinh ra từ đất, lớn lên trên mặt đất rồi khi chết cũng lại trở về với đất. Nhưng cũng từ đất, đã có biết bao nhiêu tấn bi kịch xảy ra. Trong những tấn bi kịch đầy đau đớn ấy, tất nhiên đất không có tội mà tội lỗi sinh ra từ lòng tham tự trong chính mỗi con người. Một câu chuyện đau lòng vừa xẩy ra ở ngay thủ đô Hà Nội, nguyên do phát sinh cũng từ đất mà hai chị em ruột suýt lâm cảnh "nồi da nấu thịt "…

Phán quyết chưa công bằng…

Theo tìm hiểu của ĐS &PL tại địa phương, thực hiện chính sách giãn dân, năm 1976, HTX nông nghiệp Đại Mỗ đã cấp cho 2 vợ chồng cụ là Nguyễn Văn Sửu và Lê Thị Mứt (ở xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm – Hà Nội) được 351m2 đất ở thuộc thửa 381, 383 tờ bản đồ số 3. Sau đó, vợ chồng cụ Sửu cùng các con đã xây dựng một căn nhà cấp 4. Tiếp theo đó, năm 1986, vợ chồng cụ Sửu đã cho người con trai thứ của mình là ông Nguyễn Gia Sơn đứng tên chủ sử dụng đất trong trích lục bản đồ của UBND xã Đại Mỗ. Từ năm 1992 tới 1997 hai vợ chồng cụ Sửu mất đột ngột nên không để lại di chúc. Tuy nhiên, để ổn định cuộc sống và mảnh đất của cha mẹ để lại, năm 2005, vợ chồng ông Sơn làm đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Hội đồng đăng ký đất đai xã Đại Mỗ đã tổ chức xét duyệt và ngày 19.5.2005, mảnh đất trên được UBND huyện Từ Liêm chính thức cấp sổ đỏ mang tên bà Nguyễn Thị Bảo (vợ ông Sơn).

Tranh chấp thừa kế đất đai thực hiện như thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Tuy nhiên, theo ông Sơn trình bày thì cuộc sống của gia đình đang bình yên, bất ngờ tháng 5.2007, không hiểu lý do gì bà Nguyễn Thị Tài (chị gái ruột của ông Sơn), đã đâm đơn khởi kiện em trai mình và yêu cầu chia thừa kế ngôi nhà và mảnh đất trên của ông Sơn.

Theo bản án sơ thẩm số 30/2007/DS-ST ngày 28.9.2007 của TAND huyện Từ Liêm, HĐXX chấp nhận "tuốt tuột" hầu hết yêu cầu của bà Tài. Tòa sơ thẩm còn nhận định bà Bảo đã tự ý kê khai cấp "sổ đỏ" và cho rằng việc bà Bảo làm "sổ đỏ" bà Tài không biết (?). Phán quyết cuối cùng của Tòa là nhà đất có diện tích 351m2 thuộc thửa 16, tờ bản đồ 6 tại thôn Chợ là tài sản chung của vợ chồng cụ Sửu nên phải chia đều cho 6 người con, trong đó có bà Tài và ông Sơn, mỗi kỷ phần là 43, 8m2. Ngoài ra ngôi nhà cấp 4 cũng là tài sản chung (trị giá khoảng 27, 5 triệu đồng) cũng được chia làm 6 phần.

Quá bất bình trước bản án sơ thẩm của TAND huyện Từ Liêm, vợ chồng ông Sơn đã làm đơn kháng án. Phần đông chị em ruột của ông Sơn đều quả quyết, mảnh đất trên thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông Sơn vì đã được bố mẹ cho riêng. Tuy nhiên, khi xét xử phúc thẩm, TAND TP.Hà Nội đã không xem xét thấu đáo những nội dung trên mà cho rằng việc tòa sơ thẩm xác định mảnh đất 351m2 và căn nhà cấp 4 mà vợ chồng ông Sơn đang sử dụng là tài sản chung của 2 vợ chồng cụ là Nguyễn Văn Sửu và LêThị Mứt là đúng.

Đất có "sổ đỏ": Vẫn bị cưỡng chế?

Vì sao tòa án các cấp lại phủ nhận giá trị của Giấy CNQSDĐ mà UBND huyện Từ Liêm đã cấp cho gia đình ông Sơn? ông Nguyễn Viết Hùng (Phó chủ tịch UBND xã Đại Mỗ) khẳng định với ĐS &PL, trong quá trình lập hồ sơ xét duyệt cấp sổ đỏ, UBND xã đã làm đúng qui định của pháp luật. Theo đó, dựa trên tờ khai của hộ bà Nguyễn Thị Bảo, ngày 4.2.2005, Hội đồng đăng ký đất đai xã Đại Mỗ đã tổ chức xét duyệt và tuyệt nhiên từ đó tới nay không có khiếu kiện gì. Tháng 8.2005, xã có tờ trình gửi UBND huyện Từ Liêm và ngày 19.5.2005, mảnh đất trên được chính thức cấp sổ đỏ mang tên bà Nguyễn Thị Bảo (vợ ông Sơn). Bên cạnh đó, cũng theo tìm hiểu của ĐS &PL, ông Lê Văn Bi (cán bộ quản lý ruộng đất xã Đại Mỗ cũng thừa nhận: "Ban đầu mảnh đất trên là đất giãn dân được cấp cho cụ Nguyễn Văn Sửu, sau đó chuyển tên cho con trai là ông Nguyễn Gia Sơn đứng tên trong sổ địa chính của xã".

Rõ ràng trong quá trình xét xử, các cấp tòa đã đưa ra những phán quyết chưa công bằng, thiếu khách quan, không xem xét đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng ông Sơn, người đã quản lý, sử dụng mảnh đất trên hàng chục năm trời. Điều đó khiến dư luận đặt câu hỏi nghi vấn: Liệu có gì uẩn khúc sau những bản án "nghiêng" về phía nguyên đơn?

Về vụ chia thừa kế trên, luật sư Vương Trọng Thế (Đoàn Luật sư Hà Nội) khẳng định: TAND huyện Từ Liêm chia thừa kế về đất như vậy là sai. Năm 1976, 351m2 đất giãn dân ở thửa 16, tờ bản đồ số 6 thôn Chợ được cấp cho cụ Sửu. Năm 1986 (thời điểm chưa có Luật Đất đai và Bộ Luật Dân sự) vợ chồng cụ Sửu vẫn còn sống nhưng đã để cho ông Nguyễn Gia Sơn đứng tên trong trích lục bản đồ là mặc nhiên thừa nhận chủ sử dụng đất là ông Sơn. Như vậy, kể từ năm 1986, mảnh đất không còn là tài sản của vợ chồng cụ Sửu nữa.

(MINH KHUE LAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?