Trả lời:
Theo quy định tại Điều 635 Bộ luật dân sự năm 2015 thì người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng bản di chúc. Các quy định khác như: Thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng (Điều 636); Người không được công chứng di chúc (Điều 637); Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng (Điều 638); và Di chúc do công chứng viên lập tại chỗ ở (Điều 639) Bộ luật dân sự năm 2015.
Yêu cầu hủy di chúc có công chứng bao gồm hủy cả lời chứng và xem xét nội dung của di chúc nên yêu cầu này bao gồm cả tranh chấp thừa kế (nội dung di chúc) và yêu cầu hủy văn bản cống chứng vô hiệu.
- Phạm vi giải quyết trong vụ án:
Khoản 4 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 quy định:
“Văn bản công chứng là hợp đồng, giao dịch, bản dịch đã được công chứng viên chứng nhận theo quy định của Luật này”.
Quy định này cho thấy văn bản công chứng không phải chỉ là lời chứng mà bao gồm cả hợp đồng, giao dịch và lời chứng vể hợp đồng, giao dịch ấy.
Do vậy, khi có yêu câu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu thì phải hiểu yêu cầu đó bao gồm cả yêu cầu xem xét, phán quyết về lời chứng của công chứng viên và xem xét, phán quyết về nội dung giao dịch, hợp đồng. Người khởi kiện có thể chỉ nêu vi phạm của giao dịch, hợp đồng, hoặc chỉ nêu vi phạm của thủ tục công chứng thì phạm vi xem xét vẫn phải là toàn bộ văn bản công chứng. Người khởi kiện có thể sử dụng không đúng thuật ngữ pháp lý như yêu cầu “hủy công chứng vô hiệu” nhưng nếu nội dung yêu cầu xác định đó là một văn bản không có hiệu lực thì vẫn là yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, thuộc loại tranh chấp quy định tại khoản 11 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Xác định đương sự trong vụ án:
Trong vụ án tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, người có quyền khởi kiện được quy định rộng hơn nhiều so với các tranh chấp dân sự khác. Theo quy định tại Điều 52 Luật Công chứng năm 2014 thì:
"Công chứng viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan nhà nưôc có thẩm quyền có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có cản cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật”.
Những người quy định tại Điều 52 nêu trên đều có thể là nguyên đơn trong vụ án tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu. Tổ chức hành nghề công chứng (Phòng công chứng, Văn phòng công chứng) không được nêu trong Điều 52 thì họ có thể là nguyên đơn hay không? Khoản 1 Điều 38 Luật Công chứng năm 2014 quy định về trách nhiệm bồi thường là:
“1. Tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác do lỗi mà công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức mình gây ra trong quá trình công chứng”.
Như vậy, trách nhiệm bồi thường là của pháp nhân. Do đó, pháp nhân có trách nhiệm bồi thường cũng phải có quyền yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu để ngăn chặn thiệt hại có thể tiếp tục xảy ra. Xác định tổ chức hành nghề công chứng có quyền khởi kiện yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu không trái với Điều 52 nêu trên; đây là trường hợp “người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” được quy định tại Điều 52.
Theo quy định của khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì bị đơn đã được nguyên đơn xác định từ việc khởi kiện. Tuy nhiên, việc xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án tranh chấp liên quan đến tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu có đặc biệt hơn so với các vụ án dân sự thông thường.
Khoản 2 Điều 38 Luật Công chứng năm 2014 quy định:
“Công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên gây thiệt hại phải hoàn trả lại một khoản tiền cho tổ chức hành nghề công chứng đã chi trả khoản tiền bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật; trường hợp không hoàn trả thì tổ chức hành nghề công chứng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”.
Như vậy, trách nhiệm dân sự hoàn trả cụ thể của công chứng viên, nhân viên, người phiên dịch không được giải quyết ngay trong vụ án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu nhưng đã có thể phát sinh từ việc giải quyết vụ án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu. Do đó, dù tổ chức hành nghề công chứng đã tham gia tố tụng với tư cách đương sự thì vẫn phải đưa công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch bị cho rằng có vi phạm gây ra thiệt hại tham gia tố tụng với tư cách đương sự (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) chứ không phải chỉ là nhân chứng (Tham khảo bài viết “Giải quyết yêu cầu tuyên bố vân bản công chứng vô hiệu” đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dần điện tử ngày 26/3/2020.)
Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến việc chia tài sản thừa kế, vui lòng liên hệ trực tiếp: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162
Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)