Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, Về kỹ thuật lập pháp của các biện pháp tha miễn trong phần chung của Bộ luật hình sự năm 2015 còn tồn tại những hạn chế gì? các biện pháp tha miễn bao gồm những biện pháp nào?

Cảm ơn!

Trả lời:

1. Khái quát các biện pháp tha miễn trong phần chung của Bộ luật hình sự năm 2015

Theo quan điểm được thừa nhận chung trong luật hình sự thì các quy phạm của chế định nhân đạo lớn về các biện pháp tha miễn của pháp luật hình sự bao gồm một loạt các chế định nhân đạo nhỏ nhằm thực hiện việc miễn, giảm nhẹ, hoãn và tạm đình chỉ việc quyết định (hoặc tạm đình chỉ việc tiếp tục thi hành) các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với người phạm tội hoặc/và người bị kết án và chính vì vậy, chúng được gộp lại và gọi chung là chế định về “các biện pháp tha miễn”.

Cụ thể trong Phần chung Bộ luật Hình sự năm 2015 đó là 12 chế định nhỏ mang tính nhân đạo và tha miễn sau đây: Thời hiệu trong pháp luật hình sự bao gồm hai chế định nhân đạo nhỏ hơn nữa là không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu và không thi hành bản án kết tội do hết thời hiệu; Miễn trách nhiệm hình sự; Miễn hình phạt; Miễn chấp hành hình phạt; Án treo; Tha tù trước thời hạn có điều kiện; Giảm mức hình phạt đã (được) tuyên (bao gồm cả việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt); Hoãn chấp hành hình phạt tù có thời hạn; Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù có thòi hạn; Án tích; Đại xá; và Đặc xá.

Ngoài ra, còn có một số biện pháp tha miễn mang tính đặc thù đối với hai chủ thể riêng của trách nhiệm hình sự cũng được nhà làm luật quy định riêng trong hai chương tương ứng về: Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội và; Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội sẽ được phân tích riêng khi đề cập hai nhóm quy phạm này.

Tuy nhiên, ở đây sẽ có nhiều lý do để không xem xét một số chế định nhỏ (4 chế định nhỏ) của chế định biện pháp tha miễn này. Dưới đây là 4 chế định nhỏ không được xem xét trong Bộ luật Hình sự năm 2015:

- Hoãn chấp hành hình phạt tù (Điều 67); và Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù (Điều 68) vì về cơ bản hai điều luật này vẫn giữ nguyên các quy phạm tương ứng như trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và;

- Đại xá và đặc xá thì nhà làm luật chưa ghi nhận chính thức chúng bằng các quy phạm độc lập trong Bộ luật Hình sự năm 2015.

Khi phân tích nội hàm các quy phạm của chế định này cho thấy, mặc dù đã đến lần pháp điển hóa thứ ba nhưng dù sao các quy phạm của chế định về các biện pháp tha miễn trong Bộ luật Hình sự năm 2015 có thể nhận thấy những điểm cần lưu ý dưới đây.

2. Nhược điểm của kỹ thuật lập pháp biện pháp tha miễn của Bộ luật hình sự năm 2015

Cũng như trong Bộ luật Hình sự trước đó (năm 1999), nhược điểm lớn nhất về kỹ thuật lập pháp của chế định lớn về các biện pháp tha miễn trong Phần chung Bộ luật Hình sự năm 2015 với 12 chế định nêu trên tạu mục 1 không hề được ghi nhận tập trung tại cùng một chương mà lại bị phân tán ra tại bốn chương (V, VIII, IX và X) với tổng số 18 điều luật là: Không được ghi nhận tập trung trong một Chương mà lại được quy định rải rác tại bốn chương vối tổng số 18 điều luật - Chương V “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Miễn trách nhiệm hình sự” vối 03 điều luật (các điều 27-29), Chương VIII “Quyết định hình phạt” (đã phân tích trên đây) với 01 điều luật (Điều 59 “Miễn hình phạt”), Chương IX “Thòi hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt” với 09 điều luật (các điều 60-68) và Chương X “Xóa án tích” vối 05 điều luật (các điều 69-73).

3. Một số hạn chế của các biện pháp tha miễn

Về các quy phạm về thời hiệu trong pháp luật hình sự. Nếu xem xét về bản chất pháp lý của chế định nhân đạo này thì rõ ràng là về nguyên tắc nó phải thuộc chế định nhân đạo lớn về các biện pháp tha miễn, nhưng cũng giống như trong Phần chung Bộ luật Hình sự (năm 1999), trong Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn còn tồn tại một số hạn chế như sau:

- Trong khi chưa có định nghĩa pháp lý của khái niệm thời hiệu (nói chung) trong pháp luật hình sự thì đã ghi nhận ngay định nghĩa pháp lý khái niệm của thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, cũng như định nghĩa pháp lý của khái niệm thời hiệu thi hành bản án kết tội (cái riêng).

- Mặc dù quan điểm được thừa nhận chung hoàn toàn đúng đắn cả trong khoa học luật hình sự cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, đó là: chế định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (và chế định về miễn trách nhiệm hình sự) thuộc hệ thống các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự thì nên sắp xếp chúng ỏ đằng sau các chế định có liên quan đến việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của người phạm tội nhưng (cũng như trong Bộ luật Hình sự (năm 1999)) trong Bộ luật Hình sự năm 2015 thì ngược lại, chúng “bị” sắp xếp trong Chương V tức là ở đằng trưóc ba chế định lớn là: Hình phạt (Chương VI), biện pháp tư pháp (Chương VII) và quyết định hình phạt (Chương VIII) nên rõ ràng đây chính là sự bất hợp lý về kỹ thuật lập pháp.

Bởi lẽ, căn cứ cả vào lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, cũng như theo logic pháp lý và trình tự giải quyết vấn để trách nhiệm hình sự thì việc Tòa án áp dụng các biện pháp tha miễn (cả trách nhiệm hình sự và hình phạt) bao giờ cũng chỉ được diễn ra sau khi đã xem xét các tình tiết tăng nặng - giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của vụ án cụ thể nào đó mà danh mục của chúng (cả trong Bộ luật Hình sự (năm 1999) và Bộ luật Hình sự năm 2015 đều được ghi nhận thuộc chế định quyết định hình phạt).

- Như vậy, rõ ràng để tránh các nhược điểm thường gặp trong việc soạn thảo Bộ luật Hình sự, thì trình tự sắp xếp theo thứ tự của các chế định trong Bộ luật Hình sự nên theo thứ tự như sau: 1) Đạo luật hình sự; 2) Tội phạm; 3) Những trường hợp loại trừ tính tội phạm của hành vi; 4) Trách nhiệm hình sự; 5) Các biện pháp cưỡng chế hình sự (tức hình phạt và biện pháp tư pháp hình sự); 6) Quyết định hình phạt; 7) Các biện pháp tha miễn.

Riêng đối với Bộ luật Hình sự năm 2015 do các quy phạm thuộc chế định thứ ba là chế định các biện pháp tha miễn còn ít và các quy phạm về trách nhiệm hình sự hầu như còn thiếu (vì chỉ có các quy phạm về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) nên có thể ghép chung chế định thứ ba với chế định thứ hai, chế định thứ năm (hình phạt và biện pháp tư pháp hình sự) với chế định thứ sáu (quyết định hình phạt); ngoài ra theo thứ tự này còn hai chế định độc lập nữa là chế định "Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội" và "Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội".

4. Kỹ thuật lập pháp liên quan đến chế định pháp nhân thương mại phạm tội

Mặc dù theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định tại Điều 2 và Điều 75 thì pháp nhân thương mại phạm tội cũng là chủ thể của trách nhiệm hình sự và trong một loạt các điều có liên quan đến chủ thể của trách nhiệm hình sự thuộc Phần chung Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng ghi nhận đầy đủ hai chủ thể (cá nhân và pháp nhân thương mại) như các điều 30, điều 31, điều 33, điều 35, và điều 46,... nhưng rất tiếc là vẫn còn có “kẽ hở” trong một loạt các điều khác thể hiện nguyên tắc nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước ta, thì lại không hề có quy định gì về chủ thể là pháp nhân thương mại phạm tội (trong đó có một loạt các điều về các biện pháp tha miễn) như các điều 27, điều 29, điều 62 đến điều 68 bộ luật.

5. Kỹ thuật pháp lý của một số quy phạm khác trong các biện pháp tha miễn

a. Trong khi chế định lớn về các biện pháp tha miễn là nhằm thể hiện rõ tính nhân văn cao cả và nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật hình sự vì con người của một quốc gia đang “xây dựng Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” (như Hiến pháp năm 2013 đã tuyên bố), nhưng rất tiếc là còn có chế định thuộc nó như chế định miễn hình phạt quy định tại Điều 59 Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ có hai dạng miễn.

b. Về nguyên tắc, hình phạt phải và chỉ được áp dụng đối với người bị kết án mà theo Bộ luật Hình sự năm 2015 phải là cá nhân và pháp nhân bị kết án theo bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án, có nghĩa là khi đề cập việc áp dụng “hình phạt” thì phải là áp dụng đối với “người bị kết án”. Nhưng tại 16 điều thuộc Chương VI “Hình phạt” của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì chỉ có 09 điều (các điều 37 đến điều 45) đã dùng thuật ngữ là “người bị kết án”, song còn có 07 điều khác, đó là các điều 30 đến điều 36) thì lại dùng thuật ngữ “người phạm tội”.

c. Trong Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn còn thiếu một loạt các định nghĩa pháp lý của nhiều (ít nhất là 09) khái niệm nhân đạo rất quan trọng thuộc chế định các biện pháp tha miễn, chúng có ý nghĩa to lớn và rất quan trọng về mặt nhận thức khoa học, cũng như về mặt thực tiễn đối với việc bảo vệ các quyền con người trong hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án như: Miễn trách nhiệm hình sự là gì? Miễn hình phạt là gì?; Miễn chấp hành hình phạt là gì?; Giảm mức hình phạt đã (được) tuyên là gì?; Hoãn chấp hành hình phạt tù là gì?; Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là gì?; Án tích là gì?; Đại xá là gì? và; Đặc xá là gì?....

=> Kết luận: Trên đây là một số khiếm khuyết cơ bản và rõ nét hơn cả về kỹ thuật lập pháp của các quy phạm thuộc chế định về các biện pháp tha miễn trong Phần chung Bộ luật Hình sự năm 2015; chính vì vậy, trong tương lai chúng cần phải được khắc phục để tiếp tục hoàn thiện hơn nữa các quy phạm này để chúng thực sự trở thành một chế định lón cơ bản, nhân đạo và có phạm vi rộng nhất trong hệ thống pháp luật hình sự thực định Việt Nam hiện hành.

Trân trọng!