1. Quy định về việc lập biên bản khi tiến hành hoạt động tố tụng hình sự như thế nào?
Biên bản tố tụng hình sự được hiểu là các biên bản được lập bằng văn bản theo mẫu thống nhất trong cả nước, là căn cứ pháp lý ghi lại diễn biến cụ thể cũng như kết quả của các hoạt động tố tụng hình sự.
Theo Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 thì một biên bản tố tụng hình sự thường có bố cục như sau:
- Quốc hiệu và tiêu ngữ.
- Tên văn bản và trích yếu nội dung.
- Ngày… tháng… năm… giờ… (ghi rất cụ thể thời gian giờ phút lập biên bản).
- Thành phần tham dự (kiểm tra, xác nhận sự kiện thực tế dự hội họp…).
- Diễn biến sự kiện thực tế (phần nội dung).
- Phần kết thức (ghi thời gian và lý do).
- Thủ tục ký xác nhận.
Như vậy, biên bản phải ghi rõ địa điểm, giờ, ngày, tháng, năm tiến hành tố tụng, thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc, nội dung của hoạt động tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc người liên quan đến hoạt động tố tụng, khiếu nại, yêu cầu hoặc đề nghị của họ.
Để đảm bảo khách quan trong quá trình thực hiện các hoạt động tố tụng thì mọi biên bản được lập trong quá trình thực hiện tố tụng hình sự phải có chữ ký cùa người lập, người làm chứng, người chứng kiến, người tham gia theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình lập biên bản, có thể có sự thay đổi, sửa chữa, bổ sung. Những điểm thay đổi, sửa chữa, bổ sung đó bên cạnh phải có chữ ký của những người tiến hành tố tụng, người tham gia hoặc người liên quan đến hoạt động tố tụng. Những ý kiến đề nghị, yêu cầu hoặc khiếu nại liên quan đến nội dung của biên bản cũng phải được ghi trong chính biên bản đó làm cơ sở cho việc xem xét, giải quyết của cơ quan và những người có thẩm quyền.
Tại phiên tòa xét xử, biên bản phiên tòa do thư ký ghi chép. Mặc dù phiên tòa có nhiều người tiến hành tố tụng như chủ tọa phiên tòa, thẩm phán, thành viên hội đồng xét xử, hội thẩm nhân dân, đại diện Viện kiểm sát và nhiều người tham gia phiên tòa như người bào chữa, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người phiên dịch, người giám định… nhưng biên bản phiên tòa chỉ cần có chữ ký của chủ tọa phiên tòa và thư ký tòa án. Những người khác không có nghĩa vụ và cũng không có quyền ký vào biên bản phiên tòa mặc dù một số người trong những người nói trên có quyền được đọc biên bản phiên tòa và có yêu cầu và kiến nghị nếu không đồng ý với nội dung nào đó nêu trong biên bản.
- Trường hợp người tham gia tố tụng không ký vào biên bản thì người lập biên bản ghi rõ lý do và mời người chứng kiến ký vào biên bản.
- Trường hợp người tham gia tố tụng không biết chữ thì người lập biên bản đọc biên bản cho họ nghe với sự có mặt của người chứng kiến. Biên bản phải có điểm chỉ của người tham gia tố tụng và chữ ký của người chứng kiến.
- Trường hợp người tham gia tố tụng có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc vì lý do khác mà không thể ký vào biên bản thì người lập biên bản đọc biên bản cho họ nghe với sự có mặt của người chứng kiến và những người tham gia tố tụng khác. Biên bản phải có chữ ký của người chứng kiến.
Chủ thể lập biên bản phải là người tiến hành tố tụng trực tiếp tham gia vào thực hiện hoạt động tố tụng đó bởi 02 lý do như sau:
- Thứ nhất, người lập biên bản tố tụng hình sự phải là người tiến hành tố tụng, họ là những người được các cơ quan tiến hành tố tụng trao quyền tiến hành tố tụng vậy nên để đảm bảo quyền lực nhà nước, tính nghiêm minh của pháp luật cũng như giá trị pháp lý của biên bản tố tụng thì chỉ những người này mới có quyền lập biên bản ghi lại nội dung của các hoạt động tố tụng.
- Thứ hai, người lập biên bản phải là người trực tiếp tham gia vào các hoạt động để bảo đảm tính khách quan của các biên bản đó. Rõ ràng rằng, người lập biên bản phải là người trực tiếp thực hiện hoặc có mặt tại nơi diễn ra các hoạt động tố tụng thì mới có khả năng ghi nhận một cách đầy đủ và chính xác nhất của những thông tin có giá trị trong quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng. Hơn nữa, việc đó cũng tạo điều kiện để xác định trách nhiệm của người lập biên bản bởi chính họ là người tiến hành hoặc chứng kiến sau đó ghi nhận lại vào biên bản nên họ phải là người chịu trách nhiệm cao nhất với tính chính xác của nội dung biên bản.
2. Có bao nhiêu biên bản khi tiến hành hoạt động tố tụng hình sự?
Có rất nhiều loại biên bản được sử dụng khi tiến hành hoạt động tố tụng hình sự, được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 như:
- Tại bước đầu tiên của quá trình tố tụng thì có biên bản tiếp nhận yêu cầu hay biên bản ghi nhận lời khai ban đầu (Điều 146);
- Trong giai đoạn điều tra thì có: biên bản điều tra (Điều 178), biên bản hỏi cung bị can (Điều 184), biên bản ghi lời khai của người làm chứng (Điều 187);
- Giai đoạn xét xử thì có biên bản phiên tòa (Điều 258), biên bản nghị án (Điều 259);
- Và rất nhiều loại biên bản tố tụng khác nữa.
Mỗi biên bản sẽ có quy định cụ thể về cách lập khác nhau.
3. Quy định về Biên bản ghi nhận lời khai trong tố tụng hình sự
Việc lấy lời khai phải đảm bảo thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật tố tụng hình sự. Theo đó, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cấm các hành vi lấy lời khai của bị can, bị cáo hoặc những người có liên quan khác vào ban đêm. Trừ một số trường hợp cấp thiết, không thể trì hoãn chờ trời sáng được, nhưng phải được ghi nhận rõ ràng vào biên bản.
Trước khi tiến hành lấy lời khai thì điều tra viên phải có giấy triệu tập và gửi cho người làm chứng. Giấy triệu tập phải có các nội dung như họ tên, chỗ ở hiện tại của người làm chứng, ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm có mặt, nếu vắng mặt thì ghi nhận lý do chính đáng. Giấy triệu tập được giao trực tiếp cho người làm chứng hoặc gửi thông qua chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó đang có mặt.
Trong các trường hợp lấy lời khai khi bắt giữ khẩn cấp thì cần đảm bảo:
- Cơ quan điều tra phải thông báo trước thời gian, địa điểm, hỏi cung cho người bào chữa, người đại diện hợp pháp của họ.
+ Nếu người chưa đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì có thể bị tạm giam, tạm giữ khi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị bắt giữ nếu phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Khi ra lệnh bắt giam thì phải thông báo cho gia đình hoặc người đại diện hợp pháp của họ.
+ Việc lấy lời khai sẽ được tiến hành tại nơi điều tra hoặc tại nơi ở của người đó, đảm bảo bố trí phòng hỏi cung phù hợp để giảm bớt sự căng thẳng, sợ hãi
- Việc hỏi cung tuyệt đối phải diễn ra minh bạch, không bạo lực theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự
+ Tuyệt đối không hỏi cung vào ban đêm, trừ một số trường hợp cấp thiết theo luật quy định. Nghiêm cấm điều tra viên, Kiểm sát viên bức cung hoặc dùng nhục hình đối với bị can.
+ Nghiêm cấm hành vi Điều tra viên, Kiểm sát viên tự mình thay đổi hoặc thêm bớt nội dung lời khai, nếu có sự thay đổi thì phải xác nhận vào từng trang.
+ Khi diễn ra việc hỏi cung thì cần có sự tham gia của người bào chữa, người đại diện hợp pháp của bị can, đồng thời phải giải thích rõ về quyền và nghĩa vụ của họ. Sau khi kết thúc thì tất cả người tham gia đều phải ký xác nhận vào biên bản hỏi cung.
- Người bào chữa, người đại diện hợp pháp có thể hỏi người bị bắt, bị tạm giam, tạm giữ là người dưới 18 tuổi nếu được Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên đồng ý.
- Hạn chế tố đa số lần lấy lời khai của người chưa thành niên. Thời gian lấy lời khai của người chưa thành niên sẽ không quá hai lần trên 1 ngày và mỗi lần không được pháp diễn ra quá 02 giờ đồng hồ, trừ trường hợp vụ án có tình tiết phức tạp đã được Bộ luật quy định.
- Cơ quan điều tra hạn chế đối đa việc tiến hành đối chất, đặc biệt đối với tường hợp người bị hại là trẻ em, đảm bảo không làm tổn thương đến tâm lý, tinh thần của họ.
Qúy khách có tham khảo thêm về bài viết: Biên bản tố tụng hình sự là gì? Cách lập biên bản tố tụng hình sự của Luật Minh Khuê.
Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: Tư vấn pháp luật qua email để được giải đáp. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.