1. Lex arbitri

Trong trọng tài thương mại quốc tế, người ta thường thấy luật áp dụng cho tố tụng (được gọi là lex arbitri) khác với luật áp dụng cho hợp đồng và luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài.

Ví dụ, uỷ ban trọng tài ở Xingapo có thể được yêu cầu áp dụng luật của Pháp hoặc của Anh cho nội dung vụ tranh chấp. Tuy nhiên, cách tiến hành tố tụng của uỷ ban trọng tài đó không bị điều chỉnh bởi luật của Pháp hay của Anh mà bởi luật trọng tài của Xingapo, nơi nhóm họp uỷ ban trọng tài.

Luật áp dụng cho tố tụng không đơn thuần quy định các thủ tục nội tại của tố tụng trọng tài, ví dụ như quy tắc trình các văn bản, chứng cứ của các nhân chứng,v.v…Luật áp dụng cung cấp các chỉ dẫn cho việc tiến hành tố tụng trọng tài. Luật quy định các quy tắc thành lập uỷ ban trọng tài, hoặc thay thế các trọng tài viên, ít nhất cho tới phạm vi mà các bên đã không quy định đưa tranh chấp của họ ra xét xử theo các quy tắc của một tổ chức trọng tài thường trực. Tóm lại, luật áp dụng quy định các quy tắc mà theo đó một phán quyết trọng tài có thể được công nhận và thi hành, hoặc bị huỷ.

Bằng thoả thuận đưa tranh chấp ra xét xử theo quy tắc của một tổ chức trọng tài thường trực, các bên chấp nhận tuân thủ các quy tắc của tổ chức đó. Các quy tắc này không giống nhau giữa các tổ chức. Quy tắc của một số tổ chức gần như không có điều khoản nào khác ngoài những điều khoản liên quan tới chỉ định trọng tài viên. Quy tắc của những tổ chức khác như Quy tắc của ICC quy định cụ thể hơn, liên quan cả đến việc tổ chức và giám sát toàn bộ tố tụng do tổ chức đó thực hiện, bắt đầu từ khi nộp yêu cầu xét xử trọng tài cho tổ chức cho tới khi thông báo phán quyết trọng tài.

Bằng cách dẫn chiếu các quy tắc của một tổ chức trọng tài thường trực, các bên đã từ bỏ các quy tắc của luật trọng tài được áp dụng tại nơi xét xử trọng tài, ngoại trừ những điều khoản bắt buộc mà họ không thể bỏ qua.

Vì vậy, điều quan trọng đối với các bên có ý định đưa tranh chấp ra trọng tài là tập trung vào luật trọng tài của nơi xét xử trọng tài. Một mặt, họ nên kiểm tra xem những điều khoản bắt buộc tại nơi xét xử trọng tài là gì; mặt khác, họ nên chú ý tới khả năng can thiệp của toà án tại nơi xét xử trọng tài.

Rõ ràng, các bên nên cố gắng để chọn nơi xét xử trọng tài tại một nước đã tham gia Công ước về Công nhận và thi hành phán quyết nước ngoài do Liên Hợp Quốc thông qua ngày 10 tháng 6 năm 1958 tại Niu-oóc – công nước quốc tế về trọng tài quan trọng nhất và thành công nhất. Tính cho đến nay đã có hơn 123 nước phê chuẩn công ước này (Công ước Niu-oóc). Toàn văn nội dung Công ước này và danh sách những nước tham gia được đưa vào Phụ lục I của cuốn sách này.

Tất nhiên việc có rất nhiều nước đã phê chuẩn Công ước Niu-óoc không có nghĩa là luật trọng tài của tất cả các nước này là đồng nhất. Người ta biết rằng từ cuối những năm 80, nhiều nước đã sửa đổi luật trọng tài. Các nước thông qua những sửa đổi này trước tiên không nhằm đạt được sự hài hoà hoá với luật quốc gia của những nước khác, mà để phân biệt luật của nước họ với luật của những nước khác nhằm làm cho luật của nước họ có sức hấp dẫn hơn.

Vì vậy, điều quan trọng đối với các bên muốn thoả thuận nơi xét xử trọng tài là nhận thức được sự khác biệt này. Đồng thời, các bên cũng nên nhận thức rằng bên cạnh công ước đa phương ở phạm vi quốc tế là Công ước Niu-óoc còn có nhiều công ước đa phương khác ở phạm vi khu vực. Ngoài ra còn có rất nhiều công ước song phương về trọng tài (tính đến năm 2001, có ít nhất 1500 công ước song phương về trọng tài) và đây là điều các bên nên biết, đặc biệt khi họ định thiết lập quan hệ với một bên thuộc nước chưa phê chuẩn Công ước Niu-óoc.

ở đây không tập trung phân tích hay đánh giá luật trọng tài giữa các quốc gia khác nhau mà tập trung vào các điều khoản bắt buộc ở một số nước nhất định và khả năng can thiệp của toà án quốc gia.

 

2. Điều khoản bắt buộc

Khi các bên trong trọng tài hoàn toàn tự do lựa chọn quy tắc tố tụng áp dụng, họ đồng thời sẽ bị hạn chế bởi các quy tắc tố tụng bắt buộc của nơi xét xử trọng tài.

Theo Công ước Niu-oóc, hậu quả của sự vi phạm luật tố tụng của nơi xét xử trọng tài là việc thi hành phán quyết trọng tài tại bất kỳ nước nào tham gia Công ước có thể bị khước từ theo Điều V1.e), nếu:

Phán quyết vẫn chưa có giá trị ràng buộc đối với các bên, hoặc chưa bị huỷ hoặc đình chỉ bởi một cơ quan có thẩm quyền của nước nơi, hoặc theo luật của nước đó, phán quyết trọng tài  được.

Vì vậy, điều quan trọng đối với các bên là xem xét các quy tắc này vào thời điểm đàm phán điều khoản trọng tài. Ví dụ, một số nước sẽ không cho phép các luật sư nước ngoài đại diện cho một công ty trong trọng tài.

 

2.1 Điều khoản bắt buộc đối với hình thức thoả thuận trọng tài

Ở một số nước, thoả thuận trọng tài phải do các bên lập sau khi tranh chấp đã phát sinh, mặc dù, trước đó các bên đã ký điều khoản trọng tài.

Đây là quy định tại một số nước châu Mĩ Latinh, tại đó một thoả thuận trọng tài trong hợp đồng sẽ không có hiệu lực cho tới khi một thoả thuận (compromiso) được ký khi một tranh chấp cụ thể phát sinh. Nếu bất kỳ bên nào từ chối ký thoả thuận, hoặc nếu các bên các bên không đạt được thoả thuận về bất kỳ điểm nào trong trọng tài (kể cả việc chỉ định trọng tài viên), luật của một số nước châu Mĩ Latinh cho phép một bên nhờ đến cách thực hiện đặc biệt, đó là để một toà án quốc gia có thẩm quyền thông qua bản thoả thuận trên danh nghĩa bên không chấp nhận thoả thuận.

 

2.2 Sự hợp nhất

Ở một số nước, các toà án quốc gia có thẩm quyền quyết định hợp nhất hoặc liên kết nhiều tố tụng trọng tài thành một tố tụng duy nhất (ví dụ, ở Hà Lan, thẩm quyền này được trao cho chánh án toà án khu vực, theo Điều  1046 của Bộ luật tố tụng dân sự Hà Lan). Các bên có thể thấy vụ kiện của họ được hợp nhất với một vụ kiện liên quan tới các bên khác nhưng có quan hệ với vụ kiện của họ, mặc dù điều này không được dự kiến vào thời điểm họ ký thoả thuận trọng tài.

Vì vậy, các bên nên, trước khi thoả thuận nơi xét xử trọng tài, biết được khả năng về sự hợp nhất như vậy.

 

2.3 Thời hạn

Mặc dù vấn đề thời hạn đối với khiếu kiện không được coi là vấn đề về luật tố tụng trong tất cả các hệ thống pháp luật – thường ở những theo luật Anh – Mĩ là như vậy – vấn đề này đáng được quan tâm ở đây bởi vì nó thuộc về thủ tục không thể bị bỏ qua khi lựa chọn nơi xét xử trọng tài.

 

2.4 Ngôn ngữ tố tụng

Các bên nên nhận thức rằng một số hệ thống pháp luật quy định trọng tài tiến hành bằng ngôn ngữ của nước nơi xét xử trọng tài (ví dụ, vụ kiện ở ả Rập Xê út, Quy tắc cho việc thực hiện Quy chế trọng tài của ả Rập Xê út quy định tiếng ả Rập sẽ là ngôn ngữ chính thức sử dụng tại hội đồng trọng tài, kể cả trong thảo luận hay trong thư từ qua lại.)

 

2.5 Đăng ký phán quyết

Một số hệ thống pháp luật yêu cầu phán quyết trọng tài phải được gửi cho Phòng đăng ký của toà án địa phương trong thời gian ngắn sau khi phán quyết được ban hành, nếu không làm như vậy phán quyết có thể bị vô hiệu. (Theo Luật của Cô oét – Điều 184, Bộ luật tố tụng thương mại – bản gốc của phán quyết trọng tài phải được nộp cho Phòng đăng ký của Toà án tối cao trong vòng 10 ngày sau khi phán quyết được công bố. Nếu không nộp, phán quyết có thể bị vô hiệu.)

 

3. Phạm vi can thiệp của toà án địa phương vào tố tụng trọng tài

Luật tố tụng không chỉ liên quan tới các điều khoản bắt buộc mà còn xác định phạm vi can thiệp cuả toà án địa phương vào tố tụng trọng tài. Các bên nên nhận thức rằng, thậm chí nếu họ muốn tránh đưa vụ việc ra một toà án quốc gia bằng cách thoả thuận một điều khoản trọng tài, họ không thể loại trừ khả năng một lúc nào đó vụ việc của họ có thể bị đưa ra trước một cơ quan có thẩm quyền như vậy.

Sự can thiệp này có thể phát sinh sau khi phán quyết trọng tài đã được ban hành và, cụ thể hơn, vào giai đoạn thi hành phán quyết  hoặc exequatur proceedings. Tuy nhiên, sự can thiệp của toà án quốc gia cũng có thể diễn ra trong khi tiến hành tố tụng trọng tài, thậm chí sự can thiệp này đi ngược lại ý muốn của các bên khi họ ký điều khoản trọng tài.

Khả năng can thiệp của toà án trước khi phán quyết trọng tài cuối cùng được ban hành

Các bên có thể muốn nhờ một toà án địa phương, cho dù trong quan hệ hợp đồng có một điều khoản trọng tài, hoặc kể cả khi trọng tài đã được bắt đầu. Việc này có thể vì nhiều lý do khác nhau. Trong một số vụ, các bên có thể muốn ngăn cản hoặc trì hoãn tố tụng trọng tài. Trong những vụ khác, các bên có thể tìm kiếm sự trợ giúp mà họ không thể nhận được từ uỷ ban trọng tài. Trong số các chiến thuật ngăn cản hoặc trì hoãn, những tình huống sau đáng được lưu ý:

- Tình huống phổ biến nhất là một bên không thừa nhận hiệu lực của điều khoản trọng tài hoặc khả năng giải quyết bằng trọng tài của vụ tranh chấp trước một toà án địa phương ngay khi bên đó nhận thức rằng bên đối tác hợp đồng đã bắt đầu tố tụng trọng tài.

- Một chiến thuật trì hoãn khác cũng phổ biến là một bên nộp đơn khước từ một trọng tài viên tại một tòa án địa phương, sau khi bên đó biết được sự khước từ theo Quy tắc tố tụng trọng tài, mà bên đó đã thoả thuận trong điều khoản trọng tài, không dẫn đến kết quả như nó mong đợi.

- Hơn nữa, một bên có thể tìm kiếm sự trì hoãn hoặc ngăn cản trọng tài bằng cách yêu cầu, trước một toà án địa phương, nộp một khoản tiền bảo lãnh cho các khoản chi phí chống lại bên nước ngoài đã nộp yêu cầu trọng tài chống lại nó.

Ngược với những tình huống này là những vụ kiện trong đó một bên có thể muốn xây dựng một vị trí vững chắc hơn hoặc bảo vệ quyền lợi của mình thông qua việc nhờ một toà án địa phương. Ví dụ:

- Một bên có thể yêu cầu sự trợ giúp từ một từ một toà án địa phương cho cho việc thu thập chứng cứ hoặc đối với các biện pháp khẩn cấp hoặc tạm thời trong tố tụng trọng tài, bởi bên đó không phải lúc nào cũng có thể nhận được sự trợ giúp từ uỷ ban trọng tài.

- Một bên có thể cần đến sự can thiệp của toà án địa phương nhằm khai thông tố tụng trọng tài, ví dụ, nếu trong trọng tài vụ việc, một trong các bên từ chối chỉ định một đồng trọng tài viên, hoặc nếu một bên cho rằng những quyền cơ bản của mình không được quan tâm đầy đủ trong tố tụng trọng tài.

Cuối cùng là những tình huống đáng được lưu ý do một số hệ thống pháp luật yêu cầu sự can thiệp của các toà án địa phương vào tố tụng trọng tài:

- Ví dụ, ở Abu Dhabi, các bên cần nhờ các toà án địa phương để đăng ký điều khoản trọng tài và cho phép tiến hành xét xử trọng tài tại nước đó.

- Tương tự, ở một số nước châu Mĩ Latinh, việc nhờ đến các toà án địa phương có thể là cần thiết để buộc bên chống đối phải thi hành phán thoả thuận trọng tài, điều này được yêu cầu ở những nước đó cho dù điều khoản trọng tài đã được ký giữa các bên.

Sự can thiệp của toà án quốc gia ở các nước rất khác nhau. Sự khác biệt này không chỉ nằm ở khả năng can thiệp vào tố tụng trọng tài mà còn ở tốc độ can thiệp.

Rõ ràng, các bên nên nhận thức khả năng can thiệp của toà án quốc gia vào tố tụng trọng tài theo luật của những quốc gia đó. Vì vậy, các bên nên hiểu biết về luật án lệ của các toà án địa phương nơi xét xử trọng tài trước khi xác định nơi xét xử trọng tài. Các bên cũng có thể nhận thấy luật của một số nước giới hạn hoặc loại trừ sự can thiệp đặc biệt, trong khi luật của một số nước lại cho phép. Sự giới hạn hoặc loại trừ như vậy có thể, trong trọng tài quốc tế với các bên có nền tảng văn hoá khác nhau, hoàn toàn khác nhau. Một số bên có thể nhận thấy những giới hạn này rất hữu ích, trong khi những bên khác có thể thấy kết quả trái ngược.

Can thiệp của toà án sau khi phán quyết cuối cùng được ban hành.

Các bên nên biết rằng sự can thiệp như vậy có thể ở hai cấp độ:

- Vào giai đoạn thi hành phán quyết trọng tài – khi một bên đang tìm kiếm exequatur chống lại bên đã không tôn trọng những điều khoản của phán quyết trọng tài.

- Vào giai đoạn nhờ sự can thiệp chống lại phán quyết – sự can thiệp như vậy đôi khi được tiến hành dưới hình thức một đơn kháng cáo, hoặc thông thường là một đơn đề nghị huỷ phán quyết.

Các công ước quốc tế như Công ước Niu-óoc (Điều V) thường quy định các tình huống trong đó việc công nhận và thi hành một phán quyết trọng tài có thể bị các toà án địa phương từ chối. Hơn nữa, nên lưu ý là trong một số hệ thống pháp luật, đơn đề nghị huỷ phán quyết có thể bị loại trừ trong một số trường hợp, hoặc có thể bị loại trừ trong thoả thuận với các bên. Đặc biệt, điều này áp dụng ở Bỉ, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ và Tuynidy trong trường hợp không bên nào trong tố tụng trọng tài tiến hành ở nước đó có nơi cư trú hoặc nơi hoạt động kinh doanh chính ở chính những nước đó.

Luật Minh Khuê (tổng hợp từ các nguồn trên internet)