Nếu một người qua đời không để lại di chúc mà cũng không có người thừa kế theo luật, thì người đàn ông tiếp theo thuộc họ hàng gần nhất sẽ hưởng thừa kế. Nếu không có người đàn ông kế tiếp thuộc họ hàng gần nhất, những người đàn ông thuộc dòng tộc còn lại sẽ được hưởng thừa kế.

Theo quan điểm của Ăng- ghen: “là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống”. Quyền thừa kế là quyền thừa hưởng tài sản của người chết để lại theo một trình tự do pháp luật quy định. Pháp luật cho phép những người thừa kế được hưởng di sản đồng thời buộc họ phải thực hiện những nghĩa vụ tài sản của người chết.

 

Luật La Mã quy định hai hình thức cơ bản là thừa kế theo di chúc (testato) và thừa kế theo luật (intestato), ngoài ra còn có thừa kế theo lệnh của các quan. Ở thời kỳ đầu, hình thức chủ yếu là thừa kế theo luật, sau đó thừa kế theo di chúc trở thành phổ biến hơn.

1. Thừa kế theo pháp luật được đặt ra khi nào?

Hệ thống thừa kế theo pháp luật xuất hiện vào thời kì có Luật 12 Bảng. Tương xứng với quan hệ tài sản của gia đình huyết thống, Luật 12 Bảng thừa nhận thừa kế theo luật cho những anh em họ hàng theo thứ tự nếu lúc mở thừa kế họ còn phụ thuộc vào gia chủ. 

Thừa kế theo pháp luật được tiến hành trong trường hợp người chết không để lại di chúc có giá trị hoặc có để lại di chúc nhưng người thừa kế theo di chúc đã chết trước khi mở thừa kế, không có năng lực tiếp nhận di sản theo di chúc hoặc ở trong tình trạng không có quyền hưởng di sản.

Luật 12 bảng (Lex duodecim tabularum) ra đời ở thời kỳ đầu của nền cộng hoà La Mã (hay còn gọi là sơ kỳ của nền cộng hòa). Bộ luật này được khắc trên 12 bảng đồng đặt ở quảng trường La Mã, nên Bộ luật này được gọi tắt là "Luật 12 bảng".
Do phong trào đấu tranh của bình dân và chủ nô công thương chống lại sự vận dụng tuỳ tiện tập quán trong tư pháp vì lợi ích riêng, năm 450 TCN, sau một năm làm việc, Uỷ ban biên soạn pháp luật gồm 5 quí tộc và 5 bình dân đã soạn Bộ luật này. Ủy ban đã thống nhất: ”Một đạo luật được ban hành thì phải được áp dụng chung với tất cả mọi người, chứ không phải một cá nhân cụ thể nào”. Đây là tư tưởng tiến bộ về sự bình đẳng pháp luật (aequum ius) từ các tác giả của Luật 12 bảng. (Xem: Stephan Meder, Rechts-geschichte, 2. Auflage, 2005, S. 13; Mathias Smoeckel, Stefan Stolte, Examinatorium Rechts-geschichte, 1. Auflage, 2008, S. 8f.).
Nghiên cứu luật 12 bảng, chúng ta sẽ phần nào hiểu được đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người La Mã cổ đại. Hình thức và nội dung của bản pháp điển hóa này có ảnh hưởng từ pháp luật Hy Lạp cổ đại. Trên phương diện pháp lý, vượt ra khỏi tính giai cấp, Luật 12 bảng có nhiều giá trị, đặc biệt nhất là đã tạo dựng được nền tảng dân luật cổ (alten ius civile). Về nội dung, Luật 12 bảng chứa đựng nhiều qui phạm tiến bộ về tố tụng, về luật tư và luật hình sự. 

2. Thừa kế theo PL trong thời cổ La Mã

 

2.1. Heredes sui (người thừa kế phía mình)

 

Người thừa kế bắt buộc: Những người đầu tiên được gọi để nhận di sản theo PL là những người thân thuộc của người chết, sống dưới sự kiểm soát của người chết cho đến ngày mở thừa kế và trở thành những người có năng lực pháp luật sau khi người có di sản chết. Những người này bao gồm: 

1. Con cái sống chung với người chết (nghĩa là trừ các con đã được thoát quyền, được người khác nhận làm con nuôi hoặc con gái đã kết hôn theo chế độ cum manu).

2. Vợ của người chết mà kết hôn theo chế độ cum manu và các con dâu cum manu mà chồng đã chết trước người để lại di sản.

3. Cháu (nội) trực hệ của người chết mà cha đã chết (được gọi để nhận di sản với tư cách người thừa kế thế vị).

Những người này là những người thừa kế bắt buộc: họ không có quyền từ chối nhận di sản. Hơn nữa, những người này, do sống dưới một mái nhà với người có di sản nên coi như các đồng chủ sở hữu đối với tài sản thuộc di sản; việc mở thừa kế có tác dụng khẳng định tư cách chủ sở hữu của họ đối với các tài sản liên quan.

2.2. Agnatus proximus (người thân thuộc bên nội gần nhất)

Người thừa kế không bắt buộc: Người chết có thể không có heredes sui, như trong trường hợp người độc thân hoặc tuyệt tự hay trong trường hợp người chết là phụ nữ (trong thời cổ, người phụ nữ La Mã không phải là chủ gia đình, do đó không thể có người thân thuộc sống dưới sự kiểm soát của mình). Khi đó, di sản được giao cho người thân thuộc bên nội gần nhất. Người này có thể là phụ nữ, nhưng phải là chị (em gái) cùng cha và mẹ hoặc, ít nhất, cùng cha. Những người này có quyền lựa chọn giữa nhận và không nhận di sản.

Nếu trường hợp người này từ chối nhận thừa kế thì theo luật không ai tiếp theo anh ta được hưởng thừa kế và tài sản được xem là không có thừa kế. Đây gọi là nguyên tắc thừa kế một lần, theo luật 12 Bảng: không chấp nhận sự kế tục (successio) giữa những người thừa kế và các bậc và các loại khác nhau.

    

2.3. Gentiles (người cùng họ)

 

Người thừa kế mập mờ: Nếu không có người thân thuộc bên nội, thì di sản thuộc về những người trong dòng họ. Thoạt đầu, người ta nói rằng tất cả những người cùng họ sẽ cùng hưởng di sản. Đến một lúc nào đó, thấy rằng quy định ấy quá bất tiện, pháp quan gọi người cùng họ đến nhận di sản theo thứ tự từ gần nhất đến xa nhất. Quyền thừa kế của người cùng họ bị xóa bỏ vào cuối thời kỳ của chế độ Cộng hòa: nếu không có người thân thuộc được gọi theo pháp luật, di sản được giao cho Kho bạc (nghĩa là cho Nhà nước).

3. Thừa kế theo pháp luật thời kỳ Cổ điển

Cuộc cải cách của pháp quan:

Vào giai đoạn cuối của chế độ Cộng hòa, các pháp quan xây dựng một hệ thống pháp luật thừa kế trên cơ sở cải tiến luật viết, đặc trưng bằng việc thừa nhận các hàng thừa kế theo pháp luật:

-  Di sản được chuyển giao ưu tiên cho tất cả các con (liberi – bao gồm cả con nuôi) của người chết, không phân biệt con sống chung và con đã ra riêng. Quan tòa thường giải thích rằng: phạm trù “con nuôi” không gây ra Capitis deminatio minima, vì khi với tư cách là các con nuôi họ tự làm cho bản thân được hưởng tất cả những gì họ thu được dưới mọi hình thức “giao dịch”. Trong khi đó, con đẻ của các gia chủ làm việc cho bố mẹ mình tức là trong tài sản của gia đình (sẽ để lại thừa kế) có một phần tài sản của họ. Từ đó, quan tòa cho rằng con đẻ hay con nuôi được hưởng thừa kế như nhau, ngoài ra con nuôi còn dược hưởng cả phần tài sản họ làm ra khi không còn là con nuôi nữa. 

-  Nếu không có con, thì di sản được giao cho những người thừa kế khác được chỉ định theo luật 12 Bảng (logitimi): là những người có quan hệ huyết thống với người lập thừa kế.

- Những người có quan hệ máu mủ với người lập thừa kế cho đến đời thứ 6 theo quan hệ từ gần đến xa (cognati).

-  Trong trường hợp không còn ai, thì di sản được giao cho vợ (chồng) còn sống.

Để đảm bảo lợi ích chho những người có quan hệ họ hàng với người để lại di sản, quan tòa cho phép tất cả những người theo hàng thừa kế nói trên hưởng thừa kế nếu trước đó có kẻ khước từ.

Cần lưu ý rằng cũng vào thời kỳ đó, hôn nhân sine manu (không dưới quyền chồng; người vợ có quyền có tài sản riêng và có thể ủy quyền cho chồng quản lý) phát triển rất mạnh. Với tính chất của hôn nhân sine manu, người phụ nữ có chồng vẫn được đặt dưới thẩm quyền của cha, mẹ và hoàn toàn không có quan hệ tài sản với chồng cũng như với gia đình chồng. Trong điều kiện không thể được coi là có liberi, người mẹ chỉ là một người thân thuộc bên ngoại của các con sinh ra từ cuộc hôn nhân sine manu của mình và do đó, chỉ được gọi để nhận di sản trong trường hợp con chết mà không còn người thân thuộc bên nội (của con); người con cũng chỉ là người thân thuộc bên ngoại của mẹ mình và cũng chỉ có quyền hưởng di sản, nếu mẹ chết mà không còn người thân thuộc bên nội của mẹ. 

Trước những bất hợp lý của hệ thống thừa kế theo pháp luật do các pháp quan xây dựng, các nguyên lão đã can thiệp: dưới thời Hardrien, người mẹ kết hôn sine manu được thừa nhận có quyền hưởng di sản cùng với các chị (em gái) cùng cha của con chết mà không có liberi hoặc không có anh (em trai) cùng cha; đến thời Marc-Aurel, các con được gọi để nhận di sản của mẹ như các liberi đích thực, nghĩa là trước tất cả những người thân thuộc bên nội của mẹ.

    So với luật dân sự Việt Nam, luật La Mã có sự khác biệt về việc phân chia hàng thừa kế mà cụ thể là quy định theo hàng, bậc như sau, cụ thể:

- Hàng thứ nhất: Các con (các cháu nếu các con chết)

- Hàng thứ hai: Bố mẹ (nếu bố mẹ chết thì ông bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột).

- Hàng thứ ba: Anh chị em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha.

- Hàng thứ tư: Họ hàng nội, ngoại theo nhánh ngang tính từ gần đến xa, từ nội đến ngoại trong phạm vi sáu đời.

- Hàng thứ năm: Nếu không có những người ở bốn hàng trên thì quan tòa có quyền quyết định cho vợ hưởng một phần di sản.

    Với việc quy định của luật La Mã ở hàng thừa kế thứ nhất thì người cháu luôn luôn được hưởng di sản của ông nếu bố mẹ chúng chết. Còn theo luật dân sự Việt Nam thì cháu sẽ không được nhận thừa kế của ông nếu bố mẹ chúng chết cùng thời điểm với ông bà. Ở hàng thừa kế thứ hai thì bố mẹ ở bậc một, ông bà nội, ngoại, anh chị em ruột ở bậc hai. Có nghĩa là mặc dù ở cùng một hàng thừa kế nhưng nếu có những người ở bậc một (bố mẹ) thì những người ở bậc hai (ông bà nội ngoại, anh chị em ruột) sẽ không được hưởng thừa kế. Mặt khác, ông bà nội, anh chị em ruột được hưởng mỗi người một suất thì ông bà ngoại chỉ được hưởng ½ một suất thừa kế.

    Ví dụ A chết để lại di sản là 400 aosơ, A không có con, không còn bố mẹ mà chỉ còn ông bà nội ngoại và anh ruột. Vậy di sản của A sẽ được chia như sau: ông nội 100 aosơ, bà nội 100 aosơ, anh ruột 100 aosơ, ông ngoại 50 aosơ, bà ngoại 50 aosơ.

 

Ngoài ra, nếu còn vấn đề vướng mắc hoặc băn khoăn về những nội dung trên Quý khách hàng có thể liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6162 để được giải đáp thêm.

Trân trọng./

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty luật Minh Khuê