Luật thuế giá trị gia tăng là đạo luật quy định chế độ thu thuế đối với tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế sản xuất, kinh doanh có doanh thu, được Quốc hội Khoá IX, kì họp thứ 11 thông qua ngày 40.5.1997, có hiệu lực thi hành từ ngày 01.01.1999.

Mục tiêu của việc ban hành Luật là góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hoá, dịch vụ phát triển, động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước.

Phạm vi điều chỉnh của Luật là quan hệ thu nộp thuế giữa Nhà nước với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hoá thuộc diện chịu thuế.

Luật phân biệt hai khái niệm: đối tượng chịu thuế là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (Điều 2) và đối tượng nộp thuế là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hóa chịu thuế (gọi chung là người nhập khẩu) (Điều 3). Luật cũng quy định rõ 26 đối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng như sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản chưa chế biến hoặc chỉ qua sơ chế..., sản phẩm muối; thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được; dịch vụ y tế, tín dụng, quỹ đầu tư...

Theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng, Nhà nước thu thuế vào phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Do đó, phương thức thu thuế theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng khắc phục được tình trạng Nhà nước thu thuế trùng - lặp về doanh thu, thu thuế chồng lên thuế như phương thức thu thuế doanh thu theo quy định của Luật thuế doanh thu năm 1990. Do tính ưu việt của phương thức thu thuế đối với phần giá trị tăng thêm š so với phương thức thu thuế đối với toàn bộ doanh thu mà ngày nay hơn 100 nước trên thế giới áp dụng mô hình thuế giá trị gia tăng như. Thụy Điển (năm 1969), Trung Quốc (năm 1994), Philippin (năm 1988), Áo (năm 1973), Cộng hoà liên bang Đức (năm 1968), Achentina (năm 1975), Nhật Bản (năm 1989)...

Luật thuế giá trị gia tăng của Việt Nam ban hành năm 1997 gồm Lời nói đầu, 7 chương với 30 điều và có những nội dung cơ bản sau:

1) Quy định đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, các trường hợp không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng,

2) Quy định căn cứ tính thuế và phương pháp tính thuế giá trị gia tăng;

3) Quy định việc đăng kí, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế;

4) Quy định xử lí vi phạm Luật thuế giá trị gia tăng và việc khen thưởng;

Khiếu nại và thời hiệu giải quyết tranh chấp liên quan đến thuế giá trị gia tăng.

Luật thuế giá trị gia tăng năm 1997 là văn bản luật đầu tiên đặt cơ sở pháp lí cho việc áp dụng thuế giá trị gia tăng, sắc thuế mang tính hiện đại và được áp dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới.

Luật thuế giá trị gia tăng trong quá trình thực hiện đã bộc lộ một số bất cập và đã được Quốc hội kịp thời khắc phục, bằng việc ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều tại kì họp thứ 3 Quốc hội Khóa XI ngày 17.6.2003.