Luật tổ chức hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân là đạo luật quy định cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp; quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của các đại biểu Hội đồng nhân dân; việc bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân, việc đề cử, ứng cử, bầu và bãi nhiệm các chức dành như Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp, các trưởng ban và các thành viên khác...

Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, trước yêu cầu của việc kiện toàn bộ máy chính quyền địa phương, Luật tổ chức chính quyền địa phương đầu đi xã ng Tổ ban hành. Luật năm 1958 quy lôi, g tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và Số độ làm Vip của chính quyền địa phương các Sử Bỉ, søn ki đại biểu Hội đồng nhân dân và, quan chuyên môn ở địa phương và quan hệ giữa Uỷ ban hành chính với các cơ quan đó. Theo quy định tại Luật này, các khu tự trị, các thành phố trực thuộc trung ương, tỉnh, châu, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, xã, thị trấn có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính. Các huyện có Uỷ ban hành chính. Các khu phố ở các thành phố và thị xã lớn có Ban hành chính khu phố. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn, lề lối làm việc của Ban hành chính khu phố do Thủ tướng Chính phủ quy định. Các thành phố có thể chia thành khu phố có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính.

Để phù hợp và trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uÿ ban hành chính các cấp được ban hành vào ngày 27.10.1962. Nét đặc trưng tiêu biểu là thiết lập hệ thống Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ở cả ba cấp hành chính tỉnh, huyện và cấp xã trong cả nước và các khu tự trị. Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, trên cơ sở Hiến pháp năm 1980, Quốc hội Khoá VI đã thống nhất ban hành Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 30.6.1983 chung của cả nước. Khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường với chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, thực hiện cơ chế mở cửa, yêu cầu đặt ra là phải tăng cường hơn nữa hiệu quả hoạt động và quản lí của các cơ quan chính quyền địa phương, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1989 được ban hành. Tiếp đó, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994 ra đời, một mặt, đáp ứng yêu cầu hoàn thiện cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp cho phù hợp với các quy định của Hiến pháp năm 4992 mới được ban hành, mặt khác, nhằm bảo đảm sự phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội trong thời kì đổi mới, tiếp tục kiện toàn chế độ pháp lí về tổ chức, hoạt động của các chế định pháp lí cụ thể không thể thiếu cấu thành nên Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp.

Trên cơ sở kế thừa, có những điểm mới cơ bản so với quy định của Luật năm 1983 và năm 1989; nguyên tắc làm việc của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân là xuất phát từ lợi ích chung của đất nước, lợi ích của nhân dân địa phương để quyết định và bảo đảm thực hiện các chủ trương, biện pháp nhằm phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân địa phương và làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với Nhà nước, tuân theo các quy định của Hiến pháp và pháp luật. Nội dung Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994 cũng dành một chương riêng quy định cụ thể về thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cấp tương đương, huyện, quận, thành phố trực thuộc tỉnh và thị xã và các ban của Hội đồng nhân dân các cấp. Đây là quy định mới thể hiện tầm quan trọng của hoạt động, nhiệm vụ, quyền hạn của thường trực Hội đồng nhân dân các cấp, nhất là trong khoảng thời gian giữa hai kì họp của Hội đồng nhân dân.

Sau 9 năm thi hành Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994 đã bộc lộ những bất cập trước yêu cầu của công cuộc đổi mới. Vì vậy, ngày 26.11.2003 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XI đã thông qua Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003. So với Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1994, Luật này có rất nhiều nội dung mới, có 6 chương và 140 điều.