Thưa luật sư, em là sinh viên năm 3 trường luật. Hiện em có đề tài tìm hiểu về lãi suất cho vay trong hoạt đọng của các tổ chức tín dụng. Em có thắc mắc mong luật sư giải đáp đó là phân tích quy định pháp luật về lãi suất cho vay theo quy định pháp luật. Rất mong nhận được giải đáp của luật sư. Em cảm ơn nhiều ạ! (Nguyễn Lâm)

1. Cơ sở pháp lý

- Bộ luật dân sự năm 2015

- Thông tư sô' 41/2014/TT-NHNN

2. Lược sử về lãi suất cho vay

2.1. Lãi suất là gì?

Lãi suất là tỉ lệ phần trăm (%) tính trên vốn đầu tư để xác định lãi của người đầu tư.

Về bản chất, lãi suất là giá cả của vốn đầu tư. Lãi suất là cơ sở để tính mức lãi trên vốn đầu tư của nhà đầu tư, vì lợi nhuận thu được của nhà đầu tư tỈ lệ thuận với lãi suất. Lãi suất được hình thành phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cung, cầu vốn đầu tư trong nền kinh tế, yêu cầu điều tiết nền kinh tế của nhà nước...

Lãi suất là một trong những công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước Việt Nam.

2.2. Lược sử về lãi suất

Chào bạn, với thắc mắc của bạn, chúng tôi gửi tới bạn nội dung phân tích sơ lược pháp luật về lãi suất cho vay dưới đây:

Trước tháng 5/1990, lãi suất huy động và cho vay của ngân hàng đều do Chính phủ quy định. Sau đó, Ngân hàng Nhà nước “công bố lãi suất các loại tiền gửi và cho vay” “sau khi được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phê chuẩn” (Điều 6 thông tư sô' 41/2014/TT-NHNN và Khoản 10 Điều 2 Nghị định số 138-HĐBT). Từ tháng 10/1990, Ngân hàng Nhà nước công bô' “lãi suất tối thiểu về tiền gửi, tôì đa về cho vay của các tổ chức tín dụng”.(Điều 43 Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1990)

>> Xem thêm:  Xác nhận thông tin để người khác vay tiền trả góp?

Thời kỳ 1987 - 1989, kỷ lục lãi suất huy động đã lên tới 144%/ năm (12%/tháng), lãi suất cho vay lên tới gần 119%/năm (9,9%/ tháng) và lãi suất nợ quá hạn lên tới 252%/năm (21%/tháng) để chông lạm phát.

Từ tháng 02/1992 đến tháng 10/2010, pháp luật đã quy định về việc huy động và cho vay vốn lãi suất bảo đảm bằng vàng. Cụ thể như sau: để góp phần chông lạm phát, ổn định giá cả và tiền tệ, các Ngân hàng thương mại quốc doanh, Ngân hàng đầu tư và phát triển (ngân hàng thương mại cổ phần không được phép), Tổng công ty vàng bạc và đá quý được huy động vốn (dưới hình thúc phát hành kỳ phiếu có mục đích có thời hạn 1 năm, 3 năm, 5 năm hoặc thời hạn dài hơn) và cho vay có bảo đảm giá trị theo giá vàng 99,99% (và có lãi), để cho vay trung hạn, dài hạn đối vối các tổ chức kinh tế trong nước.

Năm 1997, Luật quy định: lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nưóc xác định và công bố làm cơ sỏ cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh (Các điểu 1, 2, 3 và 4, Quyết định số 42/QĐ-NH1 ngày 21/02/1992; Quyết định số 57/QĐ-NH1 ngày 31/3/1992 và Quyết định số 432/2000/ QĐ-NHNN1 ngày 03/10/2000)

Từ tháng 8/2000 trở đi, Ngân hàng Nhà nước không quy định chốt cứng một mức lãi suất cố định, mà đưa ra biên độ về lãi suất cho vay. (Quyết định số 242/QĐ-NHNN ngày 02/8/2000)

Từ tháng 6/2002, Ngân hàng Nhà nước đã bỏ quy định cụ thể về lãi suất cho vay và tự do hóa lãi suất (Quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30/5/2002). Tuy nhiên, trong giai đoạn từ ngày 19/5/2008 đến 30/11/2011, để đối phó với tình trạng lãi suất tăng cao đột biến, Ngân hàng Nhà nước quy định: lãi suất huy động và cho vay bằng đồng Việt Nam của các tổ chức tín dụng đốỉ với khách hàng không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản.

Năm 2005, Luật Nhà vẫn quy định: việc hoàn trả tiền mua nhà xã hội “có tính lãi suất theo quy định của Ngân hàng Nhà nước” (trong khi Ngân hàng Nhà nước không còn quy định cụ thể về lãi suất).

Từ tháng 01/2006 trở đi, lãi suất cho vay lại phải thực hiện theo quy định “lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. (Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN; Khoản 1 Điều 476 về “Lãi suất”, Bộ luật Dân sự năm 2005). Lãi suất cơ bản sau thời điểm này biến động từ 7% đến 14%/năm, thì lãi suất cho vay không quá từ 10,5% đến 21%/năm. Cho đến khi Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất cơ bản lần cuối cùng là 9% vào ngày 29/10/2010 (Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/201) thì lãi suất cho vay là không quá 13,5%/năm.

Quy định về trần lãi suất cho vay của Bộ luật Dân sự năm 2015 nhằm bảo vệ quyền lợi của người vay vốn nói chung. Tuy nhiên, trên thực tế nó có rất ít tác dụng đối với cả giao dịch vay vốn bên ngoài, cũng như trong ngành Ngân hàng. Lãi suất là do quy luật cung cầu thị trường chứ các ngân hàng thương mại không thể tự quyết định. Chính Ngân hàng Nhà nước, trong thời kỳ kiên quyết yêu cầu các ngân hàng không được vượt trần lãi suất vào giữa tháng 02/2008, cũng đã chấp nhận lãi suất đấu thầu giấy tờ có giá lên tới 15%/năm tức bằng 171% lãi suất cơ bản (khi đó là 8,75%/năm).

Từ tháng 01/2008 đến năm 2010, Ngân hàng Nhà nước đã có nhiều văn bản cho phép các ngân hàng được cho vay vượt trần 150% lãi suất cơ bản nói trên.

+ Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở cho vay với mức khống chế là 165% lãi suất cơ bản. (Quyết định số 33/2008/QĐ-NHNN)

>> Xem thêm:  Cho vay với lãi suất 1.5 % trên một tháng có vi phạm pháp luật không?

+ Tổ chức tín dụng cho vay các nhu cầu vốn phục vụ đời sông không bị giới hạn theo mức lãi suất 150% lãi suất cơ bản (Thông tư số 01/2009/TT-NHNN)

+ Tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận với khách hàng. (Thông tư sô' 07/2010/TT-NHNN)

Từ tháng 01/2011, tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận trở lại về lãi suất theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp hoạt động ngân hàng có diễn biến bất thường, để bảo đảm an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước có quyền quy định cơ chế xác định lãi suất của tổ chức tín dụng.

Trong nhiều năm, quy định về lãi suất của Ngân hàng Nhà nước (lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay, lãi suất quá hạn) để làm căn cứ xác định các lãi suất dưổi đây: (Các khoản 2 và 3 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Bộ luật Hình sự, Bộ luật dân sự)

+ Lãi suất cho vay (ngoài cho vay của các tổ chức tín dụng) trong các hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự;

+ Lãi suất cho vay cầm đồ;

+ Lãi suất chậm thanh toán (lãi suất phạt) trong các hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự và hợp đồng lao động;

+ Lãi suất chậm thanh toán trong thi hành án về tài sản, bao gồm án kinh tế, án dân sự, án lao động, án hành chính và phần tài sản trong các vụ án hình sự;

+ Lãi suất làm căn cứ truy tố, xét xử tội cho vay lãi nặng.

3. Quy định pháp luật về lãi suất cho vay

Năm 2015, Bộ luật Dân sự đã quy định về bốn loại lãi suất, đó là: lãi suất cho vay (trong hạn), lãi suất chậm trả nợ gốc, lãi suất chậm trả nợ lãi và lãi suất chậm trả khác (lãi suất quá hạn).

Pháp luật ngân hàng quy định, thỏa thuận về lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng với khách hàng phải được thực hiện như sau:

Thứ nhất, tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận vê' lãi suất cho vay (được nêu cụ thể tại hợp đồng tín dụng hoặc khế ước nhận nợ) theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quy định về lãi suất cho vay tôì đa;

Thứ hai, tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam nhưng không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định trong từng thời kỳ nhằm đáp ứng một số nhu cầu vốn “phục vụ sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Tuy nhiên, điều kiện đối với khách hàng vay vốn, ngoài việc có đủ điều kiện vay vốn theo quy định, còn phải được tổ chức tín dụng đánh giá là “có tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh". (Điều 91 Luật các tổ chức năm 2010 và Thông tư 39/2016/TT-NHNN)

Trường hợp khách hàng không có tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh thì vẫn được vay vốn nhưng không được áp dụng theo lãi suất cho vay ưu đãi, mà theo lãi suất cho vay thỏa thuận. (Công văn số 1576/NHNN-CSTT)

Thứ ba, nội dung thỏa thuận về lãi suất cho vay bao gồm mức lãi suất cho vay và phương pháp tính lãi đối với khoản vay. Trường hợp mức lãi suất cho vay không quy đổi theo tỷ lệ %/năm và/hoặc không áp dụng phương pháp tính lãi theo số dư nợ cho vay thực tế, thời gian duy trì số dư nợ gốc thực tế đó, thì trong thỏa thuận cho vay phải có nội dung về mức lãi suất quy đổi theo tỷ lệ %/năm (một năm là 365 ngày) tính theo sô' dư nợ cho vay thực tế và thời gian duy trì số dư nợ cho vay thực tế đó;

Thứ tư, khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận, thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau:

+ Lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả;

+ Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định như trên, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng vối thời gian chậm trả;

+ Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

Thứ năm, trường hợp áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh, tổ chức tín dụng và khách hàng phải thỏa thuận nguyên tắc và các yếu tô' để xác định lãi suất điều chỉnh, thời điểm điều chỉnh lãi suất cho vay. Trường hợp cán cứ các yếu tố để xác định lãi suất điều chỉnh dẫn đến có nhiều mức lãi suất cho vay khác, thì áp dụng mức lãi suất cho vay thấp nhất.

Thứ sáu, tổ chức tín dụng có trách nhiệm cung cấp cho khách hàng đầy đủ các thông tin trước khi xác lập hợp đồng cho vay: lãi suất cho vay; nguyên tắc và các yếu tô' xác định, thời điểm xác định lãi suất cho vay đốĩ với trường hợp áp dụng lãi suất cho vay có điều chỉnh; lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn; lãi suất áp dụng đốỉ với lãi chậm trả; phương pháp tính lãi tiền vay; loại phí và mức phí áp dụng đốì với khoản vay; các tiêu chí xác định khách hàng vay vốn theo lãi suất cho vay.

Công ty tài chính ban hành quy định về khung lãi suất cho vay tiêu dùng áp dụng thông nhất trong toàn hệ thống trong từng thời kỳ, trong đó bao gồm mức lãi suất cho vay cao nhất, mức lãi suất cho vay thấp nhất đôì với từng sản phẩm cho vay tiêu dùng.

Khác với lãi suất huy động, lãi suất cho vay không bắt buộc phải niêm yết, trừ một số trường hợp ngoại lệ (Thông tư số 43/2016/ TT-NHNN và Nghị định số 202/2004/NĐ-CP). Lãi suất huy động thường chỉ có một số loại sản phẩm và kỳ hạn nhất định và về nguyên tắc vì rủi ro giống nhau nên lãi suất phải giống nhau nếu cùng số tiền và kỳ hạn gửi. Trong khi đó lãi suất cho vay cần phải dựa theo sự rủi ro cụ thể đối với từng khách hàng, số tiền, thời hạn vay và điều kiện cho vay khác nhau.

Tuy nhiên, tổ chức tín dụng phải minh bạch lãi suất cho vay theo quy định: thỏa thuận lãi suất cho vay khách hàng phải được lập thành văn bản, trong đó có nội dung về phương pháp tính lãi và mức lãi suất (kể cả việc thỏa thuận lãi suất điều chỉnh và thông tin về hợp đồng theo mẫu hoặc điều kiện giao dịch chung). Tổ chức tín dụng còn phải niêm yết công khai thông tin về phương pháp tính lãi tại trụ sở và đăng tải trên trang thông tin điện tử của tổ chức tín dụng (nếu có).

4. Mức lãi suất cho vay tiêu dùng của công ty tài chính tối đa là bao nhiêu?

Thưa luật sư, hiện nay tôi thấy việc vay vốn tiêu dùng tại các công ty tài chính rất dễ dàng, nhưng mức lãi suất lại hơi cao. Vậy Luật sư cho tôi hỏi pháp luật quy định mức lãi suất cho vay tiêu dùng của công ty tài chính tối đa là bao nhiêu?

Chào bạn. Nội dung bạn hỏi chúng tôi nghiên cứu và giải đáp như sau:

Tại Điều 9 Thông tư 43/2016/TT-NHNN quy định cho vay tiêu dùng của công ty tài chính do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành, có quy định:

- Lãi suất cho vay tiêu dùng của công ty tài chính thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

- Công ty tài chính ban hành quy định về khung lãi suất cho vay tiêu dùng áp dụng thống nhất trong toàn hệ thống trong từng thời kỳ, trong đó bao gồm mức lãi suất cho vay cao nhất, mức lãi suất cho vay thấp nhất đối với từng sản phẩm cho vay tiêu dùng.

- Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc kể từ ngày ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung khung lãi suất cho vay tiêu dùng, công ty tài chính phải gửi báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước theo quy định tại điểm a, b khoản 4 Điều 7 Thông tư này về khung lãi suất, trong đó nêu cụ thể các yếu tố, nguyên tắc cơ bản xác định khung lãi suất cho vay tiêu dùng, các yếu tố về chi phí vốn, chi phí rủi ro, lợi nhuận trên vốn, lãi suất thị trường và bảo đảm bù đắp được các chi phí, rủi ro liên quan, đảm bảo quyền lợi của khách hàng và sự phát triển của công ty tài chính.

Và Quyết định 2868/QĐ-NHNN mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam. Quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9,0%/năm.

Căn cứ theo quy định trên thì các công ty tài chính sẽ căn cứ vào mức lãi suất cho vay cơ bản của NHNN để đề ra mức lãi suất áp dụng cho mình. Luật không có quy định cụ thể mức lãi suất trần và mức lãi suất tối đa của các công ty tài chính là bao nhiêu, mà lãi suất tối đa cho việc cho mục đích tiêu dùng tại Công ty tài chính do Công ty tài chính tự điều chỉnh và phải được Ngân hàng Nhà nước cho phép áp dụng.

Trên đây là bài viết của chúng tôi về nội dung "Lược sử về lại suất cho vay và quy định pháp luật hiện hành về lãi suất cho vay".

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)

>> Xem thêm:  Cầm đồ tài sản không chính chủ và trách nhiệm trả tiền thuộc về ai ? Kinh doanh dịch vụ cầm đồ

Câu hỏi thường gặp về lãi suất cho vay

Câu hỏi: Phương thức cho vay tiêu dùng của công ty tài chính là gì?

Trả lời:

Công ty tài chính thỏa thuận với khách hàng việc áp dụng các phương thức cho vay tiêu dùng sau đây:

1. Cho vay từng lần: Mỗi lần cho vay, công ty tài chính và khách hàng thực hiện thủ tục cho vay và ký kết hợp đồng cho vay tiêu dùng.

2. Cho vay theo hạn mức: Công ty tài chính xác định và thỏa thuận với khách hàng một mức dư nợ cho vay tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Trong hạn mức cho vay, công ty tài chính thực hiện cho vay từng lần. Mỗi năm ít nhất một lần, công ty tài chính xem xét, xác định lại mức dư nợ cho vay tối đa và thời gian duy trì mức dư nợ này phù hợp với khả năng tài chính của khách hàng.

Câu hỏi: Lãi suất cho vay có bắt buộc phải thỏa thuận thành văn bản?

Trả lời:

Có. Tổ chức tín dụng phải minh bạch lãi suất cho vay theo quy định: thỏa thuận lãi suất cho vay khách hàng phải được lập thành văn bản, trong đó có nội dung về phương pháp tính lãi và mức lãi suất (kể cả việc thỏa thuận lãi suất điều chỉnh và thông tin về hợp đồng theo mẫu hoặc điều kiện giao dịch chung). Tổ chức tín dụng còn phải niêm yết công khai thông tin về phương pháp tính lãi tại trụ sở và đăng tải trên trang thông tin điện tử của tổ chức tín dụng

Câu hỏi: Có những loại lãi suất nào trong hoạt động cho vay?

Trả lời:

Theo quy định của Bộ luật dân sự có 4 loại lãi suất đó là: lãi suất cho vay (trong hạn), lãi suất chậm trả nợ gốc, lãi suất chậm trả nợ lãi và lãi suất chậm trả khác (lãi suất quá hạn).