1. Ly hôn và giải quyết hậu quả pháp lý của việc ly hôn ?

Thưa luật sư! Tôi có tình huống muốn Luật sư giải đáp giúp tôi. Tình huống như sau: Ngày 02/10/2003, anh Nguyễn Văn A kết hôn với chị Nguyễn Thị B. Trước khi kết hôn, anh A sở hữu xe ôtô cherolet trị giá 600 triệu đồng, cùng căn nhà cấp 4 trị giá 2 tỷ đồng, chị B sở hữu chiếc xe gắn máy Yamaha trị giá 40 triệu. Sau khi kết hôn, anh A và chị B dùng số vốn là tiền và vàng mà bố mẹ hai bên tặng cho vào ngày cưới để đầu tư kinh doanh và tạo lập nên Cửa hàng thức ăn nhanh trị giá 9 tỷ và xây dựng thêm căn nhà trị giá 2 tỷ. Trong thời kỳ hôn nhân, chị B được hưởng thừa kế từ bố mảnh đất trị giá 500 triệu đồng. Năm 2015, vì công việc kinh doanh gặp khó khăn nên anh A và chị B thường xuyên cãi vã nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể dung hòa.

Thời điểm này anh A và chị B đã có 2 con là Nguyễn Văn C – 9 tuổi, và Nguyễn Thị D – 8 tháng tuổi. Luật sư có thể cho biết:

1. Trường hợp anh A có đơn yêu cầu giải quyết việc ly hôn của vợ, chồng thì Tòa án có thụ lý giải quyết không? Vì sao?

2. Nếu chị B có đơn yêu cầu giải quyết việc ly hôn của vợ, chồng thì Tòa án có thụ lý giải quyết không? Vì sao?

3. Giải quyết hậu quả pháp lý của việc ly hôn nếu Tòa án thụ lý giải quyết việc ly hôn của vợ, chồng trong tình huống này?

Xin cảm ơn Luật sư!

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, về vấn đề thụ lý giải quyết đơn yêu cầu ly hôn từ một bên, tại Khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về việc ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

"Điều 56: Ly hôn theo yêu cầu của một bên:

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.."

Bên cạnh đó, Khoản 3 Điều 51 cũng có quy định :

"3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Đối với trường hợp của anh A, do con chung thứ hai là Nguyễn Thị D mới chỉ 8 tháng tuổi. Nên anh A không có quyền yêu cầu ly hôn theo quy định tại Khoản 3 Điều 51. Do đó, khi anh A nộp đơn yêu cầu thì Tòa án sẽ không tiến hành thụ lý đơn của anh.

Đối với trường hợp chị B, Tòa án sẽ chỉ thụ lý yêu cầu giải quyết việc ly hôn của chị khi có căn cứ về việc chồng chị có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung giữa họ không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được và đã được tiến hành hòa giải tại Tòa án nhưng không thành. Vì vậy, trong tình huống này, nếu chị B có đơn yêu cầu ly hôn có lý do như trên thì Tòa án sẽ thụ lý giải quyết.

Thứ hai, về vấn đề giải quyết hậu quả pháp lý của việc ly hôn nếu Tòa án thụ lý:

Về giải quyết tài sản của vợ chồng sau ly hôn, tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Bên cạnh đó, tại điều 33, 43 Luật này cũng có quy định:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

"Điều 46. Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung

1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.

2. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó.

3. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác."

Theo đó, nếu hai vợ chồng anh A và chị B không tự thỏa thuận được thì tài sản sẽ được chia như sau:

Đối với cửa hàng ăn nhanh trị giá 9 tỷ và ngôi nhà 2 tỷ được xác định là khối tài sản chung do đó sẽ được chia đôi cho cả hai.

Đối với xe ô tô Cherolet trị giá 600 triệu cùng căn nhà cấp bốn trị giá 2 tỷ là tài sản riêng của anh A có trước khi kết hôn nên nó sẽ không được chia và vẫn thuộc sở hữu của anh A. Tuy nhiên, nếu những tài sản này đã được anh A nhập vào khối tài sản chung khi kết hôn thì đó sẽ được coi là tài sản chung và sẽ chia đôi theo quy định. Tương tự đối với chiếc xe gắn máy Yamaha trị giá 40 triệu và mảnh đất chị được hưởng thừa kế từ bố trị giá 500 triệu của chị A. Nó sẽ thuộc tài sản riêng của chị và không được chia. Tuy nhiên, nó vẫn có thể bị chia nếu chị đã nhập chúng vào khối tài sản riêng của hai vợ chồng.

Về giải quyết việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo đó, sau khi ly hôn, chị B sẽ có quyền nuôi bé D vì bé D dưới 36 tháng tuổi, trừ trường hợp không đủ điều kiện để trực tiếp chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hoặc anh A chị B có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Còn đối với bé C, anh chị có thể thỏa thuận về người trực tiếp nuôi bé C, nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với bé, trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đồng thời vì bé C đã 9 tuổi nên cần xem xét nguyện vọng của bé muốn ở với ai để quyết định đảm bảo quyền lợi cho bé.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số:1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Không có hộ khẩu trong gia đình có được quyền hưởng di sản thừa kế không ?

2. Mức trợ cấp cho con khi ly hôn ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Tôi và chồng đang làm thủ tục ly hôn nhưng anh ấy không chịu cấp dưỡng cho con.
Vậy tôi muốn hỏi luật sư với mức lương như vậy thì con tôi sẽ được hưởng trợ cấp là bao nhiêu?
Người gửi: hongphan

Tư vấn chế độ trợ cấp sau sinh

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con khi ly hôn được quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Như vậy, nếu chồng bạn không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Về mức cấp dưỡng nuôi con quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Pháp luật không quy định cụ thể mức cấp dưỡng là bao nhiêu mà phải căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng và đương nhiên những chi phí này là chi phí hợp lý.

>> Xem thêm:  Mẫu biên bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế mới nhất và Phân chia di sản thừa kế ?

3. Không chấp nhận thỏa thuận chia tài sản có ly hôn được không ?

Thưa luật sư, Vợ tôi đòi ly hôn đã thỏa thuận phân chia tài sản và cô ấy đã nộp thủ tục(đơn ly hôn và tờ thỏa thuận) ra tòa án huyện và chờ ngày giải quyết. Tờ thỏa thuận với nội dung là: của người nào mua thì người đó được quyền lấy.

Tôi nghĩ cô ấy nuôi con nên tôi đồng ý để nhà lại cho cô ấy mà không đòi chia nhà (nhà mua sau hôn nhân).Nhưng khi làm tờ thỏa thuận xong vài ngày sau tôi nghe người ngoài nói cô ấy có chơi hội ở ngoài mà tôi không hay không biết. Vì thấy vợ không thành thật với mình nên tôi muốn chia lại tài sản có được không?

Tôi phải làm như thế nào? Mong quý luật sư tư vấn cho tôi rỏ để kịp ra tòa.(vợ tôi nộp đơn ngày 19/04/2016).

Tôi chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Điều 59 Luât hôn nhân gia đình 2014 quy định: Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

"1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết."

Như vậy, việc phân chia tài sản chung trước hết do bạn và chồng bạn tự thỏa thuận, nghĩa là văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng bạn khi ly hôn là do hai bên tự thỏa thuận. Thỏa thuận chia tài sản chung của bạn và vợ được quy định tại Điều 38 luật hôn nhân gia đình 2014 như sau:

"Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi bạn và vợ có làm văn bản thỏa thuận về chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân nhưng chỉ là một thỏa thuận chung chung và không có một sự phân chia rõ ràng. Theo quy định tại khoản 2, Điều 38 thì theo quy định của pháp luật với những tài sản là bất động sản, động sản phải đăng ký thì sẽ phải tiến hành công chứng thì mới có hiệu lực. Trường hợp là tài sản khác thì chỉ cần công chứng khi vợ chồng bạn có nhu cầu. Như vậy, việc thỏa thuận để lại nhà cho vợ bạn chưa có hiệu lực pháp luật, bạn có thể yêu cầu chia nhà với cơ quan tòa án. Còn với các loại tài sản không cần công chứng thỏa thuận hoặc bạn đã công chứng thỏa thuận theo quy định của pháp luật, bạn muốn được chia lại các loại tài này thì theo Điều 41 luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định về chấm dứt hiệu lực của thỏa thuận như sau:

"Điều 41. Chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung. Hình thức của thỏa thuận được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 38 của Luật này.

2. Kể từ ngày thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này có hiệu lực thì việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 33 và Điều 43 của Luật này. Phần tài sản mà vợ, chồng đã được chia vẫn thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

3. Quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

4. Trong trường hợp việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án thì thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung phải được Tòa án công nhận.

Theo khoản 1 điều 41, thì bạn với vợ phải có một thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung nếu bạn muốn chia lại tài sản. Thỏa thuận này phải công chứng nếu tài sản là bất động sản hoặc động sản phải đăng ký. Với các tài sản khác thì công chứng nếu bạn hoặc vợ có nhu cầu.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

4. Tư vấn phân chia tài sản khi ly hôn ?

Kính chào Quý công ty Luật Minh Khuê! Tôi muốn được tư vấn về vấn đề phân chia tài sản khi ly hôn: Tôi đang mua hai bất động sản, hợp đồng đứng tên tôi nhưng chưa đóng đủ hết tiền.

Vậy khi ly hôn, hai tài sản này có phải phân chia hay không? Tôi cũng muốn hỏi mức phí thực hiện thủ tục ly hôn như thế nào?

Xin cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Bích Hảo

>> ​Tư vấn phân chia tài sản khi ly hôn gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Xác định quyền sở hữu của 2 bất động sản trên, từ đó đưa ra căn cứ phân chia tài sản khi ly hôn

Căn cứ Điều 33 khoản 1 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng thì :

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Do thời điểm bạn mua bất động sản nằm trong thời lỳ hôn nhân (bạn chưa ly hôn vào thời điểm mua ) và 2 bất động sản trên không phải là tài sản mà bạn được thừa kế hay tặng cho từ người khác nên theo quy định trên thì đây sẽ là tài sản chung của 2 vợ chồng bạn.

Tuy nhiên, trong giấy chứng nhận của 2 bất động sản trên lại chỉ mang tên bạn(chồng) chứ không mang tên vợ bạn vì đây là tài sản chung của 2 vợ chồng. Nên sẽ thực hiện theo quy định sau:

Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung

1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này.

Điều 26. Đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng

1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản chung có giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên vợ hoặc chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 24 và Điều 25 của Luật này.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi.

Điều 24. Căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng

1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch được xác định theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.

3. Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan.

Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự, Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn.

Điều 25. Đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh

1. Trong trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung thì vợ, chồng trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó, trừ trường hợp trước khi tham gia quan hệ kinh doanh, vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc Luật này và các luật liên quan có quy định khác.

2. Trong trường hợp vợ, chồng đưa tài sản chung vào kinh doanh thì áp dụng quy định tại Điều 36 của Luật này.

- Do 2 bất động sản trên là tài sản chung của 2 vợ chồng nên số tài sản đó sẽ được chia theo quy định sau:

Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

2.Mức phí của việc ly hôn ( Căn cứ vào quy định tại nNghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bạn có thể tham khảo mức án phí ly hôn sau đây:

Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (nếu không tranh chấp về tài sản)

- Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch:

1.3

Đối với tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình có giá ngạch

a

Từ 6.000.000 đồng trở xuống

300.000 đồng

b

Từ trên 6.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng

5% giá trị tài sản có tranh chấp

c

Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng

20.000. 000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

d

Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 800.000.000 đồng

đ

Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 2.000.000.000 đồng

e

Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản tranh chấp vượt 4.000.000.000 đồng.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

5. Tài sản là căn nhà trên đất cha mẹ chồng có được chia sau ly hôn ?

Chào luật sư, xin hỏi: Tôi muốn hỏi trường hợp tôi là vợ và có đóng góp tiền vào xây dựng ngôi nhà trên đất của ba mẹ chồng ( ngôi nhà do tôi, chồng tôi và ba mẹ chồng cùng góp tiền vào xây bằng tiền riêng của mỗi người, giấy phép xây dựng cũng đứng tên ba mẹ tôi ) nếu vợ chồng tôi ly hôn thì tôi được chia tài sản thế nào ?

Tài sản là căn nhà trên đất cha mẹ chồng có được chia sau ly hôn ?

Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì vợ chồng bạn làm nhà trên đất của bố mẹ chồng, sổ đỏ hiện nay cũng mang tên ông bà. Vợ chồng bạn xây nhà kiên cố trên mảnh đất đó. Hiện nay vợ chồng bạn muốn ly hôn.

- Xác định tài sản chung của vợ chồng.

Tại Khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

“Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”

Luật hôn nhân gia đình điều 61 quy định như sau:

"Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này."

Mặt khác, tại Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 có quy định “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”

Hiện tại, nếu bố mẹ chồng bạn là người đứng tên trên sổ đỏ thì bố mẹ chồng bạn là chủ sử dụng hợp pháp phần diện tích đất đang đứng tên. Tuy nhiên, ngôi nhà là tài sản chung của vợ chồng bạn. Tuy nhiên bạn cần chứng minh đây là tài sản bạn có công sức đóng góp. Việc chứng minh của bạn có thể phụ thuộc vào người làm chứng, biên lai tiền nguyên vật liệu, biên lai trả tiền công thợ xây dựng nếu có...Tùy vào việc chị chứng minh được như thế nào để là căn cứ chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?