Thời điểm này anh A và chị B đã có 2 con là Nguyễn Văn C – 9 tuổi, và Nguyễn Thị D – 8 tháng tuổi. Luật sư có thể cho biết:

1. Trường hợp anh A có đơn yêu cầu giải quyết việc ly hôn của vợ, chồng thì Tòa án có thụ lý giải quyết không? Vì sao?

2. Nếu chị B có đơn yêu cầu giải quyết việc ly hôn của vợ, chồng thì Tòa án có thụ lý giải quyết không? Vì sao?

3. Giải quyết hậu quả pháp lý của việc ly hôn nếu Tòa án thụ lý giải quyết việc ly hôn của vợ, chồng trong tình huống này?

Xin cảm ơn Luật sư!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hôn nhân gia đình của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình 2014

2. Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, về vấn đề thụ lý giải quyết đơn yêu cầu ly hôn từ một bên, tại Khoản 1 Điều 51 có quy định về việc ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

"Điều 56: Ly hôn theo yêu cầu của một bên:

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.."

Bên cạnh đó, Khoản 3 Điều 51 cũng có quy định : "3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Đối với trường hợp của anh A, do con chung thứ hai là Nguyễn Thị D mới chỉ 8 tháng tuổi. Nên anh A không có quyền yêu cầu ly hôn theo quy định tại Khoản 3 Điều 51. Do đó, khi anh A nộp đơn yêu cầu thì Tòa án sẽ không tiến hành thụ lý đơn của anh.

Đối với trường hợp chị B, Tòa án sẽ chỉ thụ lý yêu cầu giải quyết việc ly hôn của chị khi có căn cứ về việc chồng chị có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung giữa họ không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được và đã được tiến hành hòa giải tại Tòa án nhưng không thành. Vì vậy, trong tình huống này, nếu  chị B có đơn yêu cầu ly hôn có lý do như trên thì Tòa án sẽ thụ lý giải quyết.

Thứ hai, về vấn đề giải quyết hậu quả pháp lý của việc ly hôn nếu Tòa án thụ lý:

Về giải quyết tài sản của vợ chồng sau ly hôn, tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Bên cạnh đó, tại điều 33, 43 Luật này cũng có quy định:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

"Điều 46. Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung

1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.

2. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó.

3. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác."

Theo đó, nếu hai vợ chồng anh A và chị B không tự thỏa thuận được  thì tài sản sẽ được chia như sau:

Đối với cửa hàng ăn nhanh trị giá 9 tỷ và ngôi nhà 2 tỷ được xác định là khối tài sản chung do đó sẽ được chia đôi cho cả hai.

Đối với  xe ô tô Cherolet trị giá 600 triệu  cùng căn nhà cấp bốn trị giá 2 tỷ là tài sản riêng của anh A có trước khi kết hôn nên nó sẽ  không được chia và vẫn thuộc sở hữu của anh A. Tuy nhiên, nếu những tài sản này  đã được anh A nhập vào khối  tài sản chung khi kết hôn thì đó sẽ được coi là tài sản chung và sẽ chia đôi theo quy định. Tương tự đối với chiếc xe gắn máy Yamaha trị giá 40 triệu và mảnh đất chị được hưởng thừa kế từ bố  trị giá 500 triệu của chị A. Nó sẽ thuộc tài sản riêng của chị và không được chia. Tuy nhiên, nó vẫn có thể bị chia nếu chị đã nhập chúng vào khối tài sản riêng của hai vợ chồng.

Về giải quyết việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo đó, sau khi ly hôn,  chị B sẽ có quyền nuôi bé D vì bé D dưới 36 tháng tuổi, trừ trường hợp không đủ điều kiện để trực tiếp chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hoặc anh A chị B có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Còn đối với bé C, anh chị có thể thỏa thuận về người trực tiếp nuôi bé C, nghĩa vụ  của mỗi bên sau khi ly hôn đối với bé, trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định  giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đồng thời vì bé C đã 9 tuổi nên cần xem xét nguyện vọng của bé muốn ở với ai để quyết định đảm bảo quyền lợi cho bé.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Tư vấn Luật Hôn nhân gia đình.