1. Ly hôn với người bỏ nhà đi biệt tích ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Vợ tôi bỏ nhà đi biệt tích từ năm 2006. Nay tôi muốn ly hôn thì tòa án không giải quyết mà yêu cầu phải làm thủ tục đề nghị tuyên bố vợ tôi mất tích. Xin hỏi yêu cầu như vậy có đúng không?
(Minh Thành, Kiên Giang)

Một số mẫu văn bản áp dụng cho thủ tục ly hôn

1 Mẫu đơn xin ly hôn;

2. Mẫu đơn thuận tình ly hôn;

3. Mẫu đơn xin ly hôn đơn phương;

4. Mẫu giấy xác nhận mâu thuẫn vợ chồng;

.Tư vấn Ly hôn với người bỏ nhà đi biệt tích ?

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Luật hôn nhân và gia đình 2014

- Bộ Luật tố tụng dân sự 2015

2. Luật sư tư vấn:

Theo quy định của pháp luật hiện nay thì muốn ly hôn với người đã bỏ nhà đi biệt tích, không thể liên lạc được thì phải làm thủ tục tuyên bố người mất tích trước, sau đó mới làm thủ tục ly hôn:

2.1. Thủ tục tuyên bố một người mất tích:

Căn cứ theo quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về tuyên bố một người là mất tích:

Điều 68. Tuyên bố mất tích:

1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

2. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích theo quy định của Bộ luật dân sự. Hồ sơ bao gồm:

- Đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã biệt tích 02 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hoặc đã chết và chứng minh cho việc người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm;

- Trường hợp trước đó đã có quyết định của Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú thì phải có bản sao quyết định đó.

2.2. Thủ tục ly hôn:

Sau khi có quyết định tuyên bố chồng bạn mất tích, thì bạn sẽ làm thủ tục ly hôn đơn phương, bao gồm các giấy tờ sau đây:

- Đơn xin ly hôn (theo mẫu của Tòa án)

- Giấy chứng nhận kết hôn( bản chính).

- Tuyên bố của Tòa án về việc chồng mất tích.

– Giấy khai sinh của con chung (Bản sao có chứng thực)

– Giấy tờ liên quan đến tài sản chung của vợ chồng (Bản sao có chứng thực).

Tòa án có thẩm quyền giải quyết là tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn cư trú cuối cùng trước khi mất tích.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Đã ly hôn chồng không cho gặp con phải làm như thế nào ? Quyền nuôi con khi ly hôn ?

2. Thủ tục thay đổi người trực tiếp nuôi con?

Xin chào luật sư. Em có điều muốn hỏi về thay đổi quyền nuôi con sau khi ly hôn. Hiện nay, con em được 2 tuổi, lúc ly hôn thì con em do vợ trực tiếp nuôi dưỡng, hàng tháng em vẫn cấp dưỡng tiền để nuôi con nhưng vợ em lại mang số tiền cấp dưỡng đó đi gửi tiết kiệm.

Và hiện nay, vợ em không có công việc làm ổn định. Chỉ dựa vào điểm này em có thể giành quyền trực tiếp nuôi con không? Nếu được thì em cần những giấy tờ gì?

Em xin cảm ơn !

Thủ tục thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

"Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ."

Dựa vào quy định trên, bạn có thể viết đơn yêu cầu gửi đến tòa án để thay đổi người trực tiếp nuôi con. Tuy nhiên, khi yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, bạn cần có một trong những yêu cầu sau:

-Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

- Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp của bạn, sau khi ly hôn bạn có thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng mẹ đứa bé không dùng tiền đó để nuôi con mà lại gửi tiết kiệm, hơn nữa, mẹ đứa bé không có công việc ổn định. Nếu chỉ dựa vào đó để yêu cầu tòa án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con thì chưa đủ vì đây mới chỉ là yếu tố vật chất. Ngoài yếu tố vật chất, người trực tiếp nuôi con còn phải đảm bảo đáp ứng nhiều yếu tố khác nữa như nhu cầu giáo dục, vui chơi giải trí của con, sự chăm sóc, nuôi dưỡng con,...Vì vậy, khi bạn chứng minh được người mẹ không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bạn có thể yêu cầu tào án ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn để giành quyền nuôi con.

Hồ sơ kèm theo đơn khởi kfiện gồm:

- Đơn khởi kiện giành quyền nuôi con.

- Các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ;

- Các giấy tờ chứng minh về nhân thân người khởi kiện, người bị kiện (chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, Giấy tờ xác nhận nơi cư trú…)

- Bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật về việc ly hôn;

- Giấy khai sinh của con;

- Bản kê các tài liệu nộp kèm đơn khởi kiện (có ghi rõ số lượng bản gốc, bản sao).

Bạn nộp hồ sơ khởi kiện về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con tại TAND quận/huyện nơi bị đơn (người trực tiếp nuôi con) đang cư trú, làm việc;

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Hy vọng đã giúp bạn giải quyết được vấn đề. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn dịch vụ tư vấn của Công ty Luật Minh Khuê!

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Những rủi ro khi vắng mặt không lý do tại tòa án buổi hòa giải và giải quyết việc ly hôn ?

3. Giải quyết ly hôn khi không đăng ký kết hôn ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi năm nay 25 tuổi lấy vợ năm 22 tuổi , vợ tôi lúc đó 16 tuổi nhưng do có bầu trước nên hai gia đình đã tổ chức đám cưới cho chúng tôi .Giờ con tôi đc gần 3 tuổi và vợ chồng tôi có xảy ra mâu thuẫn và gia đình vợ tôi có đòi ly hôn nhưng chúng tôi chưa đăng kí kết hôn và vợ tôi muốn dành quyền nuôi con . Xin luật sư cho tôi biết ở trường hợp này tôi phải giải quyết làm sao ?
xin cảm ơn

Tư vấn giải quyết ly hôn khi không đăng ký kết hôn ?

Trả lời:

Theo điều 14, Luật hôn nhan và gia đình 2014 quy định:

Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Như vậy, trong trường hợp này, nếu bạn và vợ bạn chung sống với nhau nhưng không kết hôn thì không được nhà nước thừa nhận về quan hệ hôn nhân này. Nếu có tranh chấp về tài sản chung hay quyền nuôi con thì lúc này, quyền và nghĩa vụ các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Vì vậy, mặc dù về mặt pháp luật không thừa nhận quan hệ hôn nhân của vợ chồng bạn, nhưng khi có yêu cầu giải quyết quyền nuôi con thì Tòa án sẽ giải quyết dựa trên những nguyên tắc trên.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin ly hôn bản mới nhất năm 2020

4. Giải quyết ly hôn khi chồng gây khó khăn ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi muốn ly hôn với chồng tôi. Tôi và con gái vẫn ở với ông bà ngoại . Nhưng cách đây 4 năm chồng tôi vào sài gòn làm việc và ở luôn trong đó chỉ ra lại ngoài này vào dịp tết cuối năm khoảng 1-2 tuần lại vào.

Trong thời gian đó tôi cũng biết được một số mối quan hệ mập mờ của chồng tôi, dẫn đến tình cảm rạn nứt và không có tiếng nói chung trong cuộc sống, cảm giác mệt mỏi và bế tắc. Nên tôi muốn ly hôn vì tính cho tới giờ chả khác nào vợ chồng tôi đang ly thân cả. Nhưng khi đề nghị ly hôn với chồng tôi thì anh ta không chịu thỏa thuận và không đồng ý, và cương quyết không về lại ngoài bắc để giải quyết ly hôn, vậy đơn tôi làm đưa lên tòa án nhân dân tỉnh có được chấp nhận và giải quyết không? Có người nói nếu anh ta không đồng ý thì tôi phải vào tận nơi anh ta sinh sống nộp đơn mới được, mà điều kiện công việc và xa con nhỏ tôi không thể vào. Tôi muốn xin 1 lời khuyên, nếu cần có thể đến tận văn phòng để xin tư vấn.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: T.L

Tư vấn giải quyết ly hôn khi chồng gây khó khăn ?

Luật sư tư vấn hôn nhân về thủ tục ly hôn, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Theo như nội dung thư mà bạn yêu cầu, hiện tại bạn đang có nhu cầu ly hôn nhưng chồng bạn lại không chấp thuận. Trong trường hợp này, bạn vẫn có thể tiến hành thủ tục ly hôn đơn phương theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được."

- Về thẩm quyền tòa án: Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động...

Theo quy định của Luật cư trú 2006 thì nơi cư trú của công dân là:

"Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.

Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.

Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú.

Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú."

Do đó, với trường hợp của bạn, bạn phải gửi đơn đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn đang cư trú.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

5. Giải quyết ly hôn khi không biết địa chỉ của vợ ?

Kính chào luật sư! Tôi có một số thắc mắc muốn nhờ luật sư tư vấn giúp tôi như sau: Tôi kết hôn với chị H năm 2012. Đầu năm 2014 chị H bỏ nhà đi đâu không rõ địa chỉ. Tháng 5 /2015 tôi muốn làm thủ tục xin ly hôn với H nhưng chỉ nghe được một chút thông tin là H hiện đang ở Trung Quốc nhưng tôi không biết được địa chỉ của H.

Hiện tôi có con 17 tháng tuổi sống cùng tôi từ nhỏ. Như vậy tôi muốn làm thủ tục ly hôn với H thì anh phải làm như thế nào? Tòa án có giải quyết cho tôi trong trường hợp tôi không biết địa chỉ của vợ hiện tại không? Tôi muốn giành quyền nuôi con thì có được không?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: L.M

Tư vấn giải quyết ly hôn khi không biết địa chỉ của vợ ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào anh, cảm ơn anh đã gửi thắc mắc của anh đến công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin anh cung cấp xin được tư vấn cho anh như sau:

Trường hợp này do anh nghe nói là chị H có thể đang ở Trung Quốc, nên anh có thể làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chị H cư trú cuối cùng tiến hành xác minh thông tin, thu thập địa chỉ, tin tức của chị H. Khi đó, sẽ có 03 trường hợp xảy ra như sau:

-Trường hợp Tòa án đã dùng biện pháp thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú mà vẫn không có thông tin gì. Thì sau 02 năm kể từ ngày có tin tức cuối cùng của chị H, anh nộp đơn yêu cầu tuyên bố một người là mất tích kèm theo hồ sơ xin ly hôn đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chị H cư trú cuối cùng để làm thủ tục tuyên bố chị H mất tích và giải quyết ly hôn.

-Trường hợp xác minh được địa chỉ của chị H ở trong nước. Nếu chị H ở trong nước thì anh cần xác minh xem chị H có đăng ký tạm trú tại địa phương chị ấy đang sống hay không? Nếu chị ấy có đăng ký tạm trú tại nơi chị ấy đang sống thì anh nộp hồ sơ ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chị H đăng ký tạm trú. Nếu chị H không tạm trú ở nơi chị ấy đang sống thì anh nộp hồ sơ ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chị H có hộ khẩu thường trú để giải quyết ly hôn.

-Trường hợp xác minh được chị H đang ở Trung Quốc, anh nộp hồ sơ ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi chị H cư trú cuối cùng để giải quyết ly hôn.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của anh. Rất cảm ơn vì anh đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?