Mối quan hệ giữa thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam và thẩm quyền của Trọng tài thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam chủ yếu được điều chỉnh trong Luật trọng tài thương mại 2010 và Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Mối quan hệ này là một vấn đề được quan tâm giải quyết thấu đáo trong quá trình soạn thảo Luật trọng tài thương mại 2010.

1.Toà án hỗ trợ thi hành thỏa thuận Trọng tài

Đối với việc hỗ trợ thực hiện thỏa thuận trọng tài, theo quy định tại điều 6 Luật trọng tài thương mại 2010 “trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được” theo đó là nghĩa vụ đương nhiên của bất kỳ Tòa án nào từ cấp huyện trở lên. Căn cứ để xác định Tòa án có thẩm quyền đối với những tranh chấp liên quan đến Trọng tài thương mại như sau:
Thứ nhất, chỉ có Tòa án nhân dân cấp Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương mới có thẩm quyền giải quyết đối với các hoạt động của Trọng tài, còn đối với tòa án cấp quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh không có thẩm quyền giải quyết.
Thứ hai, các bên tranh chấp có quyền thỏa thuận, lựa chọn Tòa án cụ thể có thẩm quyền đối với hoạt động của Trọng tài, trường hợp không có thỏa thuận lựa chọn thì căn cứ vào hoạt động, cụ thể ở đây là yêu cầu chỉ định Trọng tài viên hay áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại khoản 2 điều 7 Luật trọng tài thương mại để xác định Tòa án cụ thể có thẩm quyền.
Tuy nhiên theo quy định tại khoản 1 điều 30 BLTTDS Tòa án Việt Nam chỉ giải quyết các việc dân sự liên quan đến hoạt động của Trọng tài thương mại Việt Nam, hay các hoạt động giải quyết tranh chấp được tiến hành bởi các Trung tâm trọng tài thương mại hoặc Hội đồng trọng tài do các bên thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam. Trước khi bắt đầu tố tụng trọng tài, tòa án sẽ hỗ trợ trọng tài thông qua việc đảm bảo việc thi hành thỏa thuận trọng tài. Theo quy định tại điều 6 LTTTM bất kỳ Tòa án nào nhận được đơn khởi kiện cũng phải từ chối thụ lý tranh chấp vụ tranh chấp đó đã có thỏa thuận trọng tài có hiện lực pháp luật, quy định này hoàn toàn phù hợp với xu thế tăng cường phương thức giải quyết tranh chấp tư tại Việt Nam nhằm giảm tải cho phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án.
Theo quy định tại khoản 2 điều 60 BLTTDS bị đơn có quyền được Tòa án thông báo về việc bị khởi kiện, điều này sẽ tạo điều kiện để bị đơn có cơ hội chứng minh giữa họ có thỏa thuận trọng tài có hiệu lực. Trước khi xem xét đến nội dung của tranh chấp Hội đồng trọng tài phải xem xét hiệu lực thỏa thuận, liệu thỏa thuận trọng tài có thể thực hiện được hay không và có đúng thẩm quyền hay không, qua đó tiến hành giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật. Sau khi xem xét Hội đồng trọng tài sẽ đưa ra 2 quyết định: Nếu có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận đó có hiệu lực vụ việc sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài và tiến hành giải quyết tranh chấp. Nếu thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận không thể thực hiện được thì Hội đồng trọng tài sẽ không có thẩm quyền giải quyết hoặc quyết định đình chỉ việc giải quyết tranh chấp và thông báo cho các bên liên quan.

2. Tòa án hỗ trợ thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc, thay đổi trọng tài viên

Tòa án có vai trò quan trọng trong việc thành lập Hội đồng trọng tài khi các bên không đưa ra được thỏa thuạn thích hợp về việc thành lập Hội đồng trọng tài, quy đình này nhằm tránh bế tắc trong tố trụng trọng tài, đảm bảo tranh chấp sẽ  được giải quyết. Tòa án hỗ trợ thành lập Hội đồng trọng tài thông qua những việc cụ thể sau:

Thứ nhất, Tòa án sẽ chỉ định trọng tài viên trong các trường hợp: Hết thời hạn 30 ngày (từ khi bị đơn nhận được đơn kiện) mà bị đơn không thông báo cho nguyên đơn tên của Trọng tài viên, khi nguyên đơn có yêu cầu thì lúc này Tòa án sẽ có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên. Khi tranh chấp có nhiều bị đơn, sau khi hết 30 ngày bị đơn cuối cùng nhận được đơn kiện và các tài liệu khác mà các bị đơn không thống nhất việc lựa chọn, nếuhoặc các bên yêu cầu thì Tòa án sẽ chỉ định trọng tài viên. Những uy định này là hoàn toàn phù hợp, nếu các bên không thống nhất việc lựa chọn trọng tài viên thì cần có bên thứ ba tác động và lựa chọn trọng tài viên một cách khách quan thì đó là Tòa án.
Thứ hai, chỉ định chủ tịch Hội đồng trọng tài vụ việc sau khi hết 15 ngày kể từ khi các bên lựa chọn hay Tòa án chỉ định mà các trọng tài viên không bầu được chủ tịch, nếu một hoặc các bên yêu cầu thì Tòa án sẽ chỉ định chủ tịch Hội đồng trọng tài.
Thứ ba, chỉ định trọng tài viên duy nhất, nếu các bên thỏa thuận tranh chấp sẽ do 1 trọng tài viên giải quyết mà không thống nhất chọn được trọng tài viên mà hết thời gian theo quy định, nếu 1 hoặc các bên yêu cầu thì Tòa án sẽ chỉ định trọng tài viên duy nhất đó.
Luật trọng tài thương mại cho phép các bên được lựa chọn Tòa án cụ thể để hỗ trợ các bên thành lập Hội đồng trọng tài thay đổi trọng tài viên, tuy nhiên đóphải là các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Ngoài ra, người yêu cầu Tòa án giải quyết các loại việc trong tranh chấp sẽ phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật.

3. Tòa án hỗ trợ Trọng tài trong quá trình thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng

Trong quá trình thu thập chứng cứ: Trường hợp Hội đồng trọng tài, một hoặc các bên đã áp dụng các bện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể gửi văn bản đề nghị Tòa án có thẩm quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu bằng văn bản, lời nói, hay cảm nhận được bằng thị giác và các nguồn chứng cứ khác có liên quan. Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ là Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố nơi có chứng cứ cần được thu thập, nếu các bên không có thỏa thuận nào khác.
Tòa án sẽ thực hiện yêu cầu thu thập chứng cứ trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thu thập chứng cứ từ Chánh án Tòa án phân công 1 Thẩm phán xem xét, giải quyết yêu cầu. Thẩm phán sẽ có văn bản yêu cầu cơ quan tổ chức,cá nhân đang quản lý lưu giữ cung cấp chứng cứ cho Tòa án trong thời gian 5 ngày làm việc. Tòa án phải thông báo cho Hội đồng trong tài, các bên yêu cầu để tiến hành giao chứng cứ đã nhận từ cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thời gian 5 ngày làm việc.
Tòa án hỗ trợ triệu tập người làm chứng: Theo quy định tại khoản 2 điều 47 LTTTM 2010, Hội đồng trọng tài đã triệu tập hợp lệ người làm chứng đến phiên họp giải quyết tranh chấp nhưng họ vắng mặt (không có lý do chính đáng, gây cản trở cho việc giải quyết tranh chấp) thì Hội đồng trọng tài có văn bản đề nghị Tòa án ra quyết định triệu tập người làm chứng đến phiên họp của Hội đồng trọng tài. Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố nơi cư trú của người làm chứng có thẩm quyền hỗ trợ Trọng tài triệu tập người làm chứng nếu các bên không có thỏa thuận nào khác. Tòa án sẽ thực hiện yêu cầu triệu tập người làm chứng trong vòng 7 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu của Hội đồng trọng tài. Và trong vòng 5 ngày kể từ ngày được phân công Thẩm phán phải ra quyết định triệu tập người làm chứng. Ngoài ra, Tòa án chỉ hỗ trợ thu thập chứng cứ đối với người thứ 3 và triệu tập người làm chứng theo yêu cầu của các bên tranh chấp. Còn việc thu thập chứng cứ từ các bên thì Tòa án không can thiệp, điều này nhằm tránh được sự lệ thuộc của Trọng tài, đồng thời cũng là sự hỗ trợ rất cần thiết của Tòa án với trường hợp các bên không thu thập chứng cứ được.

4. Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Theo quy định tại điều 53 LTTTM 2010 cho phép các bên ngay sau khi nộp đơn kiện, nếu thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hay có nguy cơ bị trực tiếp bị xâm hại thì có quyền làm đơn gửi đến Tòa án yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không cần quan tâm Hội đồng trọng tài đã được thành lập hay chưa. Theo quy định tại khoản 2 điều 48 LTTTM thì việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời không bị coi là sự bác bỏ thỏa thuận trọng tài hay khước từ quyền giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Trong thời gian 3 ngày từ ngày nhận được đơn yêu cầu sáp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền phân công 1 Thẩm phán xem xét, giải quyết có hay không áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Thẩm phán phải ra quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay sau khi người yêu cầu thực hiện biện pháp đảm bảo. Về thủ tục áp dụng, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp phải được thực hiện theo quy định của BLTTDS. Một trong các bên yêu cầu Tòa án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nêu tại khoản 2 điều 49 về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài đối với 6 biện pháp khẩn cấp tạm thời. Sau đó bên tham gia tranh chấp tiếp tục yêu cầu Hội đồng trọng tài áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Hộ đồng trọng tài phải từ chối và ngược lại. Do đó, việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời phụ thuộc hoàn toàn vào ý chi của các bên.
Các đương sự không có quyền khiếu nại trong trường hợp họ không được áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, khiếu nại do việc Hội đồng trọng tài quyết định sẽ thay đổi, bổ sung hoặc là hủy quyết định. Theo quy định của BLTTDS trường hợp Tòa án ra quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời thì các đương sự sẽ có quyền khiếu nại, viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đang giải quyết việc Thẩm phám thụ lý không ra quyết định áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

5. Tòa án có thẩm quyền hủy quyết dịnh của trọng tài thương mại

Tham khảo điều 124 BLTTDS 2015 Phán quyết của trọng tài luôn có giá trị chung thẩm, các bên phải thi hành mà không có quyền kháng cáo, tuy nhiên nguyên tắc giải quyết tranh chấp một lần của Trọng tài đôi khi lại là một hạn chế. Cụ thể trong trường hợp các trọng tài viên giải quyết tranh chấp khống đúng hay xâm phạm đến quyền và lợi ích 1 hoặc của các bên, thì các bên không thể yêu cầu Trọng tài giải quyết lại hay khởi kiện ra Tòa án. Do đó, LTTTM đã có chế định hủy phán quyết trọng tài từ điều 68-71 cụ thể về các căn cứ hủy phán quyết, quyền yêu cầu hủy phán quyết, đơn yêu cầu hủy và thủ tục xét đươn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài tại tòa án. Và tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi mà Hội đồng trọng tài đã tuyên phán quyết trọng tài sẽ có những thẩm quyền xem xét, quyết định hủy phán quyết nếu các bên không có thỏa thuận khác.
 
 

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê