Mục lục bài viết
- 1. Buộc thực hiện đúng Hợp đồng xây dựng
- 1.1 Nội dung
- 1.2 Hậu quả pháp lý của buộc thực hiện đúng Hợp đồng xây dựng
- 1.3 Mục đích của việc áp dụng biện pháp buộc thực hiện đúng HĐXD
- 2. Chế tài bồi thường thiệt hại
- 2.1 Về quan hệ hợp đồng giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại
- 2.2 Về hành vi vi phạm gây thiệt hại
- 2.3 Về tính liên đới trong chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
- 2.4 Hậu quả pháp lý của việc áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại
- 2.5 Về mức bồi thường thiệt hại
1. Buộc thực hiện đúng Hợp đồng xây dựng
1.1 Nội dung
Trên cơ sở hợp đồng đã ký kết, các bên phải thực hiện những nghĩa vụ đã cam kết. Mục đích của các bên chỉ đạt được khi các bên thực hiện đúng hợp đồng với tinh thần thiện chí, hợp tác. Vấn đề đặt ra là khi một bên vi phạm nghĩa vụ đã cam kết thì bên kia sẽ áp dụng biện pháp cần thiết nào để bảo về quyền và lợi ích của mình. Buộc thực hiện đúng hợp đồng được coi là biện pháp đầu tiên trong các biện pháp mà bên bị vi phạm áp dụng đối với bên vi phạm hợp đồng. Khi áp dụng biện pháp này, hậu quả mà bên vi phạm phải gánh chịu đó là phải thực hiện đúng hợp đồng đã ký kết hoặc áp dụng biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện đúng như đã cam kết.
Hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật về hợp đồng đều có ghi nhận về buộc thực hiện đúng hợp đồng như BLDS, LTM, Nghị định 37. Tuy nhiên các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên có sự quy định không giống nhau về mặt thuật ngữ sử dụng đối với chế tài này. Theo đó có văn bản quy định đó là chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam, có văn bản quy định đó là chế tài do vi phạm hợp đồng. Cụ thể như sau:
BLDS quy định “Trách nhiệm dân sự” từ Điều 351 đến Điều 364, đó là những trách nhiệm mà bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu do hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự của mình. Cụ thể hơn: “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện một công việc mà mình phải thực hiện thì bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hoặc tự mình thực hiện hoặc giao người khác thực hiện công việc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp lý, bồi thường thiệt hại.”. LTM quy định về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng “Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh” . Tương tự LTM còn quy định cụ thể về chế tài thực hiện đúng hợp đồng khi có hành vi vi phạm hợp đồng như sau “Trường hợp bên vi phạm giao thiếu hàng hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng thì phải giao đủ hàng hoặc cung ứng dịch vụ theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng”.
Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế Unidroit hay Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế cũng có quy định về chế tài này của bên vi phạm hợp đồng. Theo đó, trong Chương 7 về biện pháp đối với việc không thực hiện đúng hợp đồng, Bộ nguyên tắc Unidroit đã quy định “khi bên có nghĩa vụ thanh toán nhưng không thực hiện thì bên kia có quyền yêu cầu thanh toán” và “khi bên có nghĩa vụ thực hiện một công việc nhưng không thực hiện, bên kia có thể yêu cầu bên vi phạm phải thực hiện”. Biện pháp này cũng được quy định tại Điều 46 và Điều 62 của Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế. Như vậy, biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng áp dụng đối với bên vi phạm hợp đồng đều được ghi nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam và một số hệ thống pháp luật trên thế giới như là biện pháp đầu tiên và hữu hiệu nhất nhằm đảm bảo cho việc thực hiện trên thực tế hợp đồng đã ký kết cũng như mục đích mà các bên mong muốn khi giao kết hợp đồng được đáp ứng
Nghị định 37 quy định về HĐXD cũng như thông tư 09 hướng dẫn mẫu HĐXD không đưa ra định nghĩa về buộc thực hiện đúng hợp đồng. Những quy định về hình thức chế tài này được ghi nhận ở nhiều điều khoản khác nhau, với quy định buộc nhà thầu“Sửa chữa sai sót trong công trình đối với những công việc do mình thi công.” đối với những công việc do nhà thầu thực hiện không đảm bảo theo yêu cầu hoặc buộc bên giao thầu thanh toán cho nhà thầu theo quy định. Cách hình thức CHẾ TÀI cụ thể này cũng chính là việc áp dụng hình thức chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo quy định của BLDS và LTM. Theo đó, buộc thực hiện đúng HĐXD là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng HĐXD hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện, bên vi phạm hợp đồng phải chịu các chi phí phát sinh.
1.2 Hậu quả pháp lý của buộc thực hiện đúng Hợp đồng xây dựng
Khi áp dụng hình thức chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, hậu quả pháp lý mà bên vi phạm hợp đồng sẽ phải gánh chịu là phải tiếp tục thực hiện đúng các nghĩa vụ đã cam kết theo hợp đồng hoặc dùng biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện (tự sửa chữa khuyết tật của hàng hóa, thiếu sót của dịch vụ...) và bên vi phạm phải chịu các phí tổn phát sinh. Trường hợp bên bị vi phạm và bên vi phạm thỏa thuận thay thế nghĩa vụ này bằng nghĩa vụ khác, không được coi là áp dụng biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng. Như vậy pháp luật quy định bên vi phạm hợp đồng không chỉ tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng đã ký kết mà còn phải thực hiện các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện đúng như đã cam kết và phải chịu trách nhiệm đối với các chi phí phát sinh từ việc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng và thực hiện các biện pháp khác đó. Nội dung của buộc thực hiện đúng hợp đồng bao gồm: tiếp tục thực hiện đúng các nghĩa vụ theo hợp đồng và thực hiện các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện đúng như khắc phục, sửa chữa các hậu quả phát sinh từ sự vi phạm hợp đồng và chịu các chi phí phát sinh với mục đích cuối cùng là đảm bảo cho mục đích của các bên khi tham gia hợp đồng đều đạt được một cách tốt nhất.
Đối với HĐXD, việc một bên áp dụng hình thức buộc thực hiện đúng hợp đồng khi bên kia vi phạm hợp đồng sẽ khiến cho bên bị áp dụng biện pháp này phải thực hiện một số hành vi - đó là những bất lợi mà bên vi phạm phải gánh chịu trước bên bị vi phạm. Theo đó, với mỗi hành vi vi phạm HĐXD cụ thể, bên vi phạm phải thực hiện những hành vi khác nhau để hợp đồng được thực hiện đúng. Cụ thể được pháp luật quy định như sau:
- Trường hợp NTXD vi phạm về chất lượng thi công xây dựng công trình, pháp luật quy định bên giao thầu có quyền yêu cầu nhà thầu khắc phục hậu quả của việc vi phạm về chất lượng. Theo yêu cầu của bên giao thầu, NTXD phải “Sửa chữa sai sót trong công trình đối với những công việc do mình thi công.”. Đối với các sản phẩm sai sót (chưa đảm bảo yêu cầu của hợp đồng) thì phải được sửa chữa, trường hợp không sửa chữa được thì phải loại bỏ. Bên nào gây ra sai sót thì bên đó phải chịu toàn bộ chi phí liên quan đến sửa chữa, kiểm định lại và các chi phí khác liên quan đến việc khắc phục sai sót cũng như tiến độ thực hiện hợp đồng. Việc xử lý các sai sót, hư hỏng của công trình được tiến hành như sau: Đối với các sai sót về cơ bản không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng công trình thì những tồn đọng này được ghi trong biên bản nghiệm thu, bàn giao công trình và nhà thầu phải có trách nhiệm hoàn thành những tồn đọng này bằng chi phí của mình. Trường hợp công trình chưa đủ điều kiện để nghiệm thu, bàn giao; các bên xác định lý do và nêu cụ thể những công việc mà nhà thầu phải làm để hoàn thành công trình. Trường hợp nhà thầu không sửa chữa được các sai sót hay hư hỏng trong khoảng thời gian mà bên giao thầu yêu cầu, bên giao thầu có thể tự tiến hành công việc hoặc thuê người khác sửa chữa và nhà thầu phải chịu mọi chi phí. Nhà thầu sẽ không phải chịu trách nhiệm về công việc đã sửa chữa nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình đối với công trình theo HĐXD.
- Trường hợp NTXD vi phạm nghĩa vụ bảo đảm an toàn lao động thì NTXD và các bên có liên quan có trách nhiệm tổ chức xử lý và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về an toàn lao động theo quy định của pháp luật đồng thời “chịu trách nhiệm khắc phục và bồi thường những thiệt hại do nhà thầu không bảo đảm an toàn lao động gây ra”.
- Trường hợp NTXD vi phạm nghĩa vụ về bảo đảm vệ sinh môi trường xây dựng, bên giao thầu có quyền yêu cầu nhà thầu phải thực hiện các biện pháp chống bụi, chống ồn và thu dọn hiện trường. Đối với nước thải, chất thải phải được thu gom xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường đồng thời phải khắc phục các hậu quả đã gây ra như thu dọn, vệ sinh môi trường, bồi thường thiệt hại.
- Trường hợp NTXD vi phạm nghĩa vụ bảo hành, pháp luật quy định bên giao thầu có quyền yêu cầu NTXD phải sửa chữa mọi sai sót, thay thế các thiết bị bị hư hỏng do lỗi của nhà thầu gây ra trong quá trình thi công bằng chi phí của nhà thầu. Việc sửa chữa các lỗi này phải được thực hiện trong khoảng thời gian mà hai bên thỏa thuận. Nếu quá thời hạn này mà nhà thầu không bắt đầu thực hiện các công việc sửa chữa thì CĐT có quyền thuê một nhà thầu khác thực hiện các công việc này và toàn bộ chi phí cho việc sửa chữa để chi trả cho bên thứ ba sẽ do nhà thầu chịu và sẽ được khấu trừ vào tiền bảo hành của nhà thầu.
- Trường hợp bên giao thầu vi phạm nghĩa vụ tạm ứng và thanh toán theo hợp HĐXD thì bên giao thầu phải thực hiện nghĩa vụ tạm ứng và thanh toán theo thỏa thuận đồng thời phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bên nhận thầu lãi suất quá hạn áp dụng cho ngày đầu tiên chậm thanh toán do ngân hàng thương mại mà bên nhận thầu mở tài khoản công bố kể từ ngày đầu tiên chậm thanh toán cho đến khi bên giao thầu đã thanh toán đầy đủ cho bên nhận thầu.
1.3 Mục đích của việc áp dụng biện pháp buộc thực hiện đúng HĐXD
Là nhằm đảm bảo thực hiện trên thực tế hợp đồng đã ký kết. Các bên xuất phát từ mục tiêu kinh doanh, mục tiêu lợi nhuận hoặc được sử dụng các công trình xây dựng chứ không phải nhằm đạt được lợi ích từ việc nộp phạt hay bồi thường thiệt hại từ phía bên vi phạm. Trong nhiều trường hợp, việc các bên nộp tiền phạt hay bồi thường thiệt hại không thể thay thế lợi ích từ việc thực hiện hợp đồng đã ký kết. Do vậy, buộc thực hiện đúng HĐXD thường là biện pháp đầu tiên mà bên bị vi phạm sử dụng khi bên kia có hành vi vi phạm hợp đồng đã ký kết. So với các hình thức chế tài khác, buộc thực hiện đúng hợp đồng là một biện pháp mang tính mềm dẻo, thiện chí và có hiệu quả do nó có khả năng hạn chế thiệt hại. Trong HĐXD, do tính chất đặc thù của hoạt động thi công xây dựng, vì thế việc áp dụng biện pháp buộc thực hiện đúng HĐXD là cần thiết và hết sức quan trọng. Việc áp dụng các biện pháp mang tính chất cứng rắn, trừng phạt đối tác như phạt hợp đồng, đình chỉ, hủy bỏ là rất hạn chế. Bởi lẽ, trong hoạt động xây dựng, để lựa chọn được nhà thầu từ đó thành lập HĐXD là một quá trình được quy định chặt chẽ, đặc biệt đối với những công trình xây dựng có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước thì phải thông qua công tác đấu thầu theo quy định của Luật đấu thầu. Nếu áp dụng các biện pháp cứng rắn như đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng sẽ làm cho quan hệ hợp đồng chấm dứt, từ đó việc lựa chọn nhà thầu phải được tiến hành lại từ đầu, điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ thực hiện dự án cũng như các vấn đề khác. Với ý nghĩa quan trọng như vậy, nhưng pháp luật chuyên ngành quy định về HĐXD đã không ghi nhận một cách xứng đáng về vị trí, vai trò của buộc thực hiện đúng HĐXD. Cụ thể, buộc thực hiện đúng HĐXD được ghi nhận bằng việc đưa ra biện pháp giải quyết đối với từng vi phạm cụ thể, rải rác ở nhiều điều luật khác nhau. Cách quy định này có ưu điểm là đối với mỗi dạng hành vi vi phạm HĐXD thì có cách thức xử lý tương ứng nhằm giải quyết triệt để từng dạng hành vi vi phạm. Chẳng hạn, đối với hành vi vi phạm về chất lượng, nhà thầu phải chịu trách nhiệm sửa chữa, khắc phục các sai sót, khiếm khuyết của sản phẩm xây dựng. Đối với hành vi vi phạm về nghĩa vụ tạm ứng và thanh toán thì bên giao thầu phải chịu trách nhiệm thanh toán và trả lãi suất quá hạn theo quy định. Đối với các vi phạm về an toàn lao động, vệ sinh công trường xây dựng thì nhà thầu phải chịu trách nhiệm xử lý và khắc phục hậu quả gây ra. Tuy nhiên, với cách quy định này có hạn chế là không mang tính khái quát cao, dẫn đến vướng mắc khi áp dụng biện pháp buộc thực hiện đúng HĐXD đối với những hành vi vi phạm không được pháp luật quy định.
2. Chế tài bồi thường thiệt hại
Khi thiết lập quan hệ hợp đồng, các bên đều hướng đến những lợi ích nhất định, những lợi ích đó chỉ đạt được khi hợp đồng được thực hiện đúng. Việc một trong các bên không thực hiện đúng hợp đồng tất yếu sẽ dẫn đến những hậu quả pháp lý nhất định. Hậu quả đó có thể là lợi ích của các bên bị xâm hại - làm phát sinh thiệt hại vật chất. Vấn đề đặt ra là Chế tài được áp dụng như thế nào đối với bên vi phạm hợp đồng, những thiệt hại vật chất của bên bị vi phạm sẽ được giải quyết ra sao. Chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng được đặt ra nhằm giải quyết vấn đề nêu trên.
Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là hình thức chế tài được ghi nhận hầu hết trong hệ thống pháp luật các nước trên thế giới. Theo truyền thống pháp luật của các nước châu Âu lục địa, bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là biện pháp thứ yếu, chỉ được áp dụng nếu không thực hiện đúng hợp đồng. Theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ đây là hình thức chế tài thông dụng và hiệu quả.
Ở Việt Nam, chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng được ghi nhận trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau về hợp đồng và được áp dụng phổ biến. Từ BLDS đến LTM và các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành khác về hợp đồng đều có quy định về hình thức chế tài này. Tuy nhiên, theo BLDS thế nào là bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thì vấn đề này chưa được làm rõ và chưa mang tính khái quát cao, chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng chỉ được đề cập cụ thể đối với từng trường hợp vi phạm nghĩa vụ cụ thể. Theo đó, BLDS quy định khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao vật mà gây thiệt hại thì người này có trách nhiệm bồi thường, hoặc “Trường hợp việc vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại cho bên bị vi phạm thì bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại” [20, Điều 356, khoản 3]. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện một công việc mà mình phải thực hiện thì bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hoặc tự mình thực hiện hoặc giao cho người khác thực hiện công việc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.
Như vậy, BLDS có quy định về chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ dân sự, dùng phương pháp liệt kê để xác định những trường hợp được bồi thường thiệt hại nhưng không đưa ra khái niệm thế nào là bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
Khắc phục được hạn chế của BLDS, LTM quy định về chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng mang tính khái quát cao hơn. Chế tài này được quy định từ Điều 302 đến Điều 307, trong đó có đưa ra khái niệm bồi thường thiệt hại như sau “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm” . Với quy định trên bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là hình thức chế tài được áp dụng nhằm để bù đắp những thiệt hại thực tế cho bên bị thiệt hại, nó có chức năng chủ yếu là bồi hoàn, bù đắp, khôi phục lợi ích vật chất bị thiệt hại cho bên bị vi phạm.
2.1 Về quan hệ hợp đồng giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm HĐXD được xây dựng bởi các quy phạm được thiết lập để điều chỉnh chế độ hợp đồng, có thể coi nó là một phần của chế định hợp đồng trong pháp luật dân sự và pháp luật thương mại. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm HĐXD chỉ tồn tại khi giữa các bên có tồn tại quan hệ HĐXD, nó chỉ phát sinh khi xuất hiện sự vi phạm một hay nhiều nghĩa vụ từ quan hệ hợp đồng đó. Giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có quan hệ HĐXD với nhau. Còn trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài HĐXD là loại trách nhiệm do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam phát sinh bên ngoài, không phụ thuộc, không liên quan đến hành vi thực hiện HĐXD hoặc có hành vi vi phạm HĐXD những thiệt hại gây ra cho bên thứ ba không tham gia quan hệ HĐXD.
2.2 Về hành vi vi phạm gây thiệt hại
Khi xem xét đến hành vi vi phạm gây thiệt hại, thì đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm HĐXD, hành vi này là hành vi vi phạm những cam kết, nghĩa vụ cụ thể từ quan hệ hợp đồng mà hai bên đã thiết lập. Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài HĐXD, thì hành vi vi phạm gây thiệt hại là hành vi vi phạm những quy định của pháp luật nói chung mà dẫn đến thiệt hại chứ hành vi đó không phát sinh từ những nghĩa vụ, cam kết theo HĐXD giữa các bên (nếu có HĐXD).
2.3 Về tính liên đới trong chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm HĐXD, trường hợp nhiều người cùng gây ra thiệt hại thì họ liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu khi giao kết họ có thỏa thuận trước về vấn đề chịu trách nhiệm liên đới. Còn đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài HĐXD, trường hợp nhiều người cùng gây ra thiệt hại thì họ đều phải chịu trách nhiệm liên đới theo quy định của pháp luật.
2.4 Hậu quả pháp lý của việc áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại
Chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng được quy định là hậu quả bất lợi về tài sản mà bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu mà theo quy định của pháp luật “Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần” [20, Điều 361, khoản 1]. Trong Hợp đồng xây dựng, hậu quả pháp lý mà bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu đó là việc bên vi phạm phải bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Hay nói cách khác bên vi phạm hợp đồng phải bồi hoàn, bù đắp, khôi phục những lợi ích vật chất, tinh thần bị mất, bị giảm sút mà bên bị vi phạm phải gánh chịu do hành vi vi phạm hợp đồng của họ gây ra.
Các loại thiệt hại mà bên vi phạm hợp đồng xây dựng phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bên kia, không được pháp luật chuyên ngành về xây dựng quy định cụ thể. Tuy nhiên, căn cứ vào các quy định chung về cách tính thiệt hại theo quy định của Bộ luật dân sự hiện hành và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan thì có thể xác định được các loại thiệt hại này. Đối với bên giao thầu, thiệt hại đó là những chi phí mà bên giao thầu phải bỏ ra để sửa chữa, khắc phục các sản phẩm, công trình xây dựng bị hư hỏng, bị khiếm khuyết, các chi phí về bồi thường thiệt hại, phạt hợp đồng đối với bên thứ ba mà bên giao thầu phải gánh chịu do những vi phạm về chất lượng, tiến độ của bên nhận thầu, các thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của người thuộc bên giao thầu tham gia quá trình thi công. Đối với bên nhận thầu, các thiệt hại về vật chất là các chi phí mà họ phải bỏ ra do công việc bị bỏ dở giữa chừng, ngừng công việc, thuê máy móc thiết bị thi công, vật liệu, cấu kiện bị ứ đọng do lỗi của bên giao thầu gây ra. Bên cạnh đó còn có các chi phí cho việc thi công lại, sửa chữa, khắc phục những sai sót của công trình do lỗi của bên giao thầu.
Thiệt hại phải được bồi thường trong HĐXD được pháp luật quy định còn bao gồm khoản “lãi suất quá hạn” đối với việc chậm thanh toán hợp đồng của bên giao thầu. Khoản lãi suất quá hạn này áp dụng cho ngày đầu tiên chậm thanh toán do ngân hàng thương mại mà bên nhận thầu mở tài khoản công bố kể từ ngày đầu tiên chậm thanh toán cho đến khi bên giao thầu đã thanh toán đầy đủ cho bên nhận thầu. Như vậy pháp luật chuyên ngành quy định về HĐXD quy định trách nhiệm đối với khoản lãi chậm trả của bên giao thầu là chế tài bồi thường thiệt hại, khoản lãi chậm trả được coi là khoản thiệt hại của bên nhận thầu mà bên giao thầu phải chịu trách nhiệm bồi thường
2.5 Về mức bồi thường thiệt hại
Bộ luật dân sự quy định “3. Các bên có thể thỏathuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.” . Tương tự, Luật xây dựng xác định “mức bồi thường thiệt hại phải tương đương với mức tổn thất của bên kia”. Như vậy, với quy định nêu trên thì mức bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là “tương đương” hay nói cách khác tổn thất gây ra cho bên bị vi phạm bao nhiêu thì bên vi phạm phải bồi thường bấy nhiêu, không có tổn thất xảy ra thì không phải bồi thường. Do vậy, pháp luật quy định nghĩa vụ chứng minh thiệt hại thuộc về bên yêu cầu bồi thường thiệt hại. Theo đó bên yêu cầu bồi thường phải chứng minh những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng của phía bên kia gây ra. Bên cạnh nghĩa vụ chứng minh tổn thất gây ra, pháp luật còn quy định bên yêu cầu bồi thường thiệt hại còn có nghĩa vụ hạn chế tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra. Đây là quy định “hoàn toàn hợp lý, thể hiện một cách đầy đủ nguyên tắc thiện chí và trung thực trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên”.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty Luật Minh Khuê