1. Cơ chế bảo vệ quyền con người bằng tòa án là gì?

Nếu bảo đảm quyền con người là việc tạo ra các điều kiện thuận lợi về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật văn hóa giáo dục để quyền con người được thực hiện thì bảo vệ quyền con người là việc nhà nước, xã hội thông qua pháp luật hành động chống lại những hành vi xâm hại đến quyền con người. Sự xâm phạm đến quyền con người có thể từ phía cá nhân trong xã hội cũng có thể là sự xâm phạm từ chính cơ quan công quyền. Sự xâm phạm này thể hiện ở mức độ khác nhau, cao nhất là hành vi tội phạm. Trong nhà nước pháp quyền, trách nhiệm bảo vệ quyền con người trước hết thuộc về nhà nước với các cơ quan trong bộ máy của mình trong đó có cơ quan tòa án.

Bảo vệ quyền con người bằng tòa án là việc tòa án trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của mình và các quy định của pháp luật, xử lý những hành vi xâm phạm đến quyền con người hoặc giải quyết các tranh chấp trong xã hội nhằm bảo vệ quyền con người. Quyền được bảo vệ quyền con người là một trong những quyền cơ bản của con người. Theo Điều 8 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) thì mọi người đều có quyền được bảo vệ bởi một phương thức khắc phục hữu hiệu (right to an effective remedy). Theo đó: “Mọi người đều có quyền được các toà án quốc gia có thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháp hữu hiệu để chống lại những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của họ mà đã được hiến pháp hay luật pháp quy định.” Như vậy, việc bảo vệ quyền con người bằng hệ thống cơ quan tòa án quốc gia (hay cơ quan tài phán quốc gia) là nghĩa vụ của nhà nước và là quyền của người dân.

2. Thành tích nhân quyền của Việt Nam

Thành tích nhân quyền của Việt Nam đã được thể hiện rõ trong Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam được trình bày tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc Geneva, Thụy Sỹ ngày 8/5/2009. Theo đó: Nhà nước Việt Nam coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội và luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người". "Hiến pháp 1992, văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, đảm bảo mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bình đẳng trước pháp luật; quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại và cư trú trên đất nước Việt Nam; quyền khiếu nại và tố cáo; quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe... không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo". Trong lĩnh vực tư pháp, thành tích này được thể hiện trong các báo cáo thường niên của ngành toà án Việt Nam. Ví dụ: Báo cáo năm 2009 của Tòa án nhân dân Tối cao đưa ra đánh giá: Các phán quyết của Toà án căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, nên chất lượng xét xử được đảm bảo. Từ thành tích trên, có thể đánh giá ở Việt Nam đã hiện diện một cơ chế bảo vệ quyền con người bằng tòa án và cơ chế này đang vận hành tốt.

Tuy nhiên, đánh giá công tác tư pháp, Nghị quyết số 08/NQTW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị đã nêu rõ: Công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp. Khi còn tình trạng bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ của nhân dân thì muốn bảo vệ tốt hơn nữa quyền con người vẫn còn nhiều việc phải làm trong đó có việc đảm bảo sự vận hành suôn sẻ, thông suốt của cơ chế bảo vệ quyền con người bằng toà án. Đặc biệt cần chú trọng đến việc dỡ bỏ các rào cản pháp lý và các rào cản xuất phát từ hành vi của nhân viên tư pháp, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận được công lý tại tòa và thông qua đó toà án đảm nhiệm tốt nhiệm vụ bảo vệ quyền con người của mình đúng như Nghị quyết số 49/NQ-TƯ của Bộ Chính trị năm 2005 ngày 2/6/2005 về cải cách tư pháp đã chỉ ra: Đổi mới thủ tục hành chính trong các cơ quan tư pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý.

Cơ chế bảo vệ quyền con người bằng tòa án ở Việt Nam còn một số điểm cần khắc phục.

3. Toà án chưa thực sự độc lập

Cơ chế bảo vệ quyền con người bằng tòa án là cách thức, phương thức, sự vận hành của hệ thống tòa án nhằm bảo vệ quyền con người. Muốn làm được điều này thì toà án phải độc lập. Sự độc lập của toà án bị chi phối bởi tổ chức, thẩm quyền, quan hệ của toà án với các cơ quan hành pháp lập pháp và ở Việt Nam có thêm quan hệ với các tổ chức của Đảng Cộng sản được tổ chức song song vối các cấp hành chính và đương nhiên song song với các cấp tòa án. Bên cạnh đó là quan hệ nội bộ bên trong các toà án như quan hệ giữa chánh án và thẩm phán, quan hệ giữa tòa án cấp trên và tòa án cấp dưới.

Tuy nhiên, ở các cấp độ nhận thức, pháp luật và thực tiễn, vấn đề độc lập của tòa án vẫn còn chưa triệt để. Trong cơ chế phân quyền trong nhà nước pháp quyền, quyền lực tư pháp luôn luôn và nhất thiết phải độc lập. Trong cơ chế phân công và phối hợp trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ỏ nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, người ta chưa chỉ ra phôi hợp chỗ nào và phân công chỗ nào, nhất là phối hợp nhưng vẫn đảm bảo cho tòa án độc lập. ở Việt Nam, toà án không có quyền giải thích pháp luật mà chịu sự giám sát của quốc hội và hội đồng nhân dân thậm chí giám sát bởi cơ quan tư pháp khác là các Viện kiểm sát. Điều đó có nghĩa là toà án chỉ thực hiện một phần của quyền lực tư pháp, phần còn lại do các cơ quan như điều tra, kiểm sát thực hiện thể hiện rõ nhất trong thủ tục tố tụng hình sự. Ngoài ra, vấn đề tổ chức tòa án theo đơn vị hành chính, quy trình bổ nhiệm thẩm phán, các tòa án do toà án cấp trên quản lý về mặt tổ chức khiến cho Toà án tối cao vừa đóng vai trò quản lý tổ chức, tài chính... của một Bộ, vừa là cơ quan xét xử xét trong mối quan hệ với tòa cấp dưới cũng bị cho là ảnh hưởng đến sự độc lập của tòa án và thẩm phán.

4. Thẩm quyền của tòa án còn bị hạn chế

Toà án trong nhà nước pháp quyền có thẩm quyền giải quyết tất cả các tranh chấp trong xã hội. Dưới góc độ bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền con người bằng tòa án trước sự xâm phạm từ các chủ thể khác trong xã hội kể cả nhà nước là cơ chế văn minh và hiệu quả. Tuy nhiên, ở Việt Nam, toà án chưa quán xuyến hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nói cách khác, vẫn còn những hành vi xâm phạm đến quyền con người mà toà án dù muốn bảo vệ nhưng không có cơ chế bởi rào cản đầu tiên là thẩm quyền. Sự xâm phạm quyền con người đáng lo ngại nhất và hậu quả không kém phần nghiêm trọng là sự xâm phạm từ phía công quyền. Công quyền xâm hại đến quyền con người thông qua hành vi công vụ của công chức, và đặc biệt là bằng các đạo luật vi hiến.

Thế nhưng, ở Việt Nam chưa có toà án Hiến pháp đồng nghĩa với việc nếu nhà nước thông qua các đạo luật vi hiến xâm phạm quyền con người thì người dân không có cơ chế để yêu cầu toà án bảo vệ. Trong lĩnh vực hành chính, hiện nay tòa án hành chính mới chỉ được giải quyết 22 loại việc. Điều đó có nghĩa là loại việc thứ 23 của cơ quan hành chính trở đi nếu có dấu hiệu xâm phạm đến quyền con người thì sẽ có cơ chế giải quyết khác chứ không phải bằng con đường toà án. Trước xu thế các quyền con người ngày càng phát triển và mở rộng cả về quy mô, nội dung và hình thức biểu hiện, thì việc thiếu hụt các cơ chế bảo vệ nó trong đó có cơ chế bảo vệ bằng tòa án là sự khiếm khuyết đáng tiếc. Mở rộng thẩm quyền cho tòa án đồng nghĩa với việc tạo thêm thế lực cho tòa án bảo vệ tốt hơn quyền con người và với việc mở rộng thêm các kênh để người dân có thể bảo vệ quyền con người của mình.

5. Thủ tục tố tụng còn gây trở ngại

Nói đến cơ chế bảo vệ quyền con người bằng toà án không chỉ bàn đến vấn đề tổ chức, thẩm quyền mà còn là vấn đề thủ tục tố tụng. Thủ tục tố tụng có thể coi như đường ray luật pháp vạch sẵn, trên đường ray luật định này, các quy định pháp luật, nội dung về quyền con người đến cái đích là bảo vệ quyền con người. Thủ tục tố tụng cho toà án thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền con người ở Việt Nam đã hình thành và vận hành trong thực tế. Tuy nhiên, trong thủ tục tố tụng người ta vẫn gặp phải những chướng ngại vật làm cho cơ chế bảo vệ quyền con người bằng toà án bị vướng mắc. Những chướng ngại vật này chủ yếu nằm ở thủ tục tạo điều kiện cho người dân tham gia và tự bảo vệ quyền con người của mình trước tòa.

Trong tố tụng hình sự là vấn đề quyền thu thập chứng cứ, quyền tự bào chữa và nhờ người bào chữa, quyền không phải đưa ra chứng cứ chống lại chính mình, quyền im lặng của người bị buộc tội vẫn chưa được quy định rõ hoặc có quy định nhưng không được đảm bảo tốt nhất trong thực tế. Đối với người làm chứng, chưa có cơ chế bảo vệ tính mạng, sức khoẻ và sự an toàn mọi mặt của họ khi làm chứng trước tòa. Trong lĩnh vực phi hình sự, các đương sự vẫn còn gặp khó khăn khi tiếp cận toà án để yêu cầu bảo vệ quyền con người của mình, thể hiện ở các quy định phức tạp của luật tố tụng dân sự về thủ tục nhận đơn và thụ lý đơn. Bên cạnh đó, với đặc thù của đất nước đang phát triển, nghèo về kinh tế, văn minh pháp lý chưa cao, ở Việt Nam vẫn còn thiếu các dịch vụ pháp lý miễn phí hoặc giá rẻ dành cho các đối tượng yếu thế trong xã hội mỗi khi có yêu cầu bảo vệ trước tòa.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)