1. Căn cứ áp dụng do vi phạm Hợp đồng xây dựng

Căn cứ áp dụng chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam là những dấu hiệu cần và đủ để áp dụng các hình thức chế tài đối với bên vi phạm HĐXD. Pháp luật quy định căn cứ áp dụng chế tài tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng thống nhất pháp luật cũng như xác định hình thức chế tài tương ứng. Mỗi hình thức chế tài khác nhau thì có các căn cứ phát sinh khác nhau, tuy nhiên căn cứ đầu tiên và chung nhất của tất cả các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng đó là phải có hành vi vi phạm hợp đồng. Các yếu tố khác như thiệt hại xảy ra, mối quan hệ nhân quả chỉ áp dụng đối với chế tài bồi thường thiệt hại.
Trong pháp luật xây dựng hiện hành, không có quy định nào mang tính khái quát về căn cứ áp dụng chế tài HĐXD. Căn cứ áp dụng chế tài HĐXD được quy định rải rác trong một số điều luật mà chủ yếu là việc ghi nhận một số dạng hành vi vi phạm HĐXD từ đó có thể áp dụng chế tài do vi phạm. Đối với yếu tố lỗi của bên vi phạm HĐXD, pháp luật chuyên ngành không ghi nhận yếu tố lỗi là căn cứ áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại theo tinh thần của LTM. Cụ thể, theo quy định tại khoản 6, Điều 146, Luật xây dựng “Trường hợp một bên vi phạm hợp đồng do nguyên nhân của bên thứ ba, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm vi phạm hợp đồng trước bên kia. Tranh chấp giữa bên vi phạm với bên thứ ba được giải quyết theo quy định của pháp luật.”. Theo đó, việc các bên vi phạm HĐXD xuất phát từ nguyên nhân gì, có lỗi hay không có lỗi thì họ luôn phải chịu trách nhiệm trước bên bị vi phạm. Điều này phù hợp với đặc trưng về chủ thể và chế độ chịu trách nhiệm, mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan đến HĐXD mà pháp luật quy định.
Nghiên cứu, so sánh các quy định tương ứng về yếu tố lỗi trong chế tài do vi phạm hợp đồng theo quy định của một số hệ thống pháp luật như Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng, áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại “không cần yếu tố lỗi”. Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế Unidroit cũng quy định:
Việc không thực hiện một nghĩa vụ đem lại cho bên có quyền quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và theo phần bình luận về điều luật này thì “Bên có quyền chỉ phải chứng minh việc không thực hiện, có nghĩa là họ đã không nhận được những gì đã được cam kết. Bên này đặc biệt không cần phải chứng minh rằng việc không thực hiện là do lỗi của bên có nghĩa vụ.

2. Có hành vi vi phạm Hợp đồng xây dựng

Hành vi vi phạm HĐXD là yếu tố đầu tiên và quan trọng làm căn cứ áp dụng chế tài do vi phạm HĐXD của bên vi phạm. Đây là yếu tố bắt buộc phải có khi áp dụng bất kỳ hình thức chế tài nào, nếu không có hành vi vi phạm HĐXD, chế tài sẽ không được áp dụng. Trong quan hệ HĐXD, hành vi vi phạm hợp đồng là hành vi của một bên không thực hiện hợp đồng hoặc thực hiện không đúng hợp đồng. Yếu tố hợp đồng ở đây được hiểu không chỉ bao gồm thỏa thuận giữa các bên mà còn cả các quy định của pháp luật về hợp đồng. Như vậy, vi phạm HĐXD là hành vi của bên giao thầu hoặc bên nhận thầu đã không xử sự hoặc xử sự trái với quy định của pháp luật hoặc trái với nội dung các nghĩa vụ đã cam kết theo HĐXD.
Khi nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hành vi vi phạm trong quan hệ HĐXD, ở đây đề cập đến hai vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tính trái pháp luật của hành vi và việc áp dụng trách nhiệm đối với hành vi vi phạm. Đó là: cơ sở pháp lý để xác định hành vi vi phạm HĐXD và các dạng hành vi vi phạm HĐXD thường gặp.
Cơ sở pháp lý để xem xét, đánh giá tính trái pháp luật của hành vi vi phạm HĐXD là những nghĩa vụ trong hợp đồng có hiệu lực pháp luật, hồ sơ hợp đồng vànhững quy định của pháp luật về HĐXD. Khi HĐXD được thiết lập, nghĩa vụ hợp đồng phát sinh và có ý nghĩa bắt buộc thực hiện đối với các bên. Sự thỏa thuận chi tiết về các điều khoản trong hợp đồng như điều khoản về khối lượng công việc, về yêu cầu về chất lượng, tiến độ thi công xây dựng, điều khoản về giá hợp đồng... cũng là những điều khoản về nghĩa vụ của các bên là cơ sở để xem xét, đánh giá tính phù hợp hay sự vi phạm hợp đồng. Trong một số trường hợp, nội dung các điều khoản mà các bên cam kết không đầy đủ dẫn tới mâu thuẫn, bất đồng trong việc thực hiện nghĩa vụ HĐXD thì những quy định của pháp luật trở thành cơ sở để đánh giá tính trái pháp luật của hành vi. Đó là những điều khoản mà pháp luật đã quy định nhưng các bên không thỏa thuận trong hợp đồng, song phải mặc nhiên thừa nhận quy định đó. Khoa học pháp lý gọi đó là những điều khoản thông thường, được áp dụng ngay cả khi các bên không thỏa thuận  và ghi vào hợp đồng. Thực  tiễn ký kết và thực hiện HĐXD thường gặp các điều khoản thông thường như: nghĩa vụ của bên giao thầu và nghĩa vụ của bên nhận thầu, điều khoản về chất lượng, tiến độ, nghiệm thu, bảo hành...Các điều khoản trong HĐXD mà các bên đã thỏa thuận và quy định của pháp luật về những vấn đề liên quan là cơ sở để đánh giá tính trái pháp luật của hành vi và xác định hành vi vi phạm. Đối với những vấn đề các bên không thỏa thuận và pháp luật cũng không quy định thì không đủ cơ sở pháp lý để xác định tính trái pháp luật của hành vi và do đó không thể xác định chế tài trong trường hợp này.
Về các dạng hành vi vi phạm HĐXD: Trong quan hệ HĐXD, có rất nhiều loại hành vi vi phạm với hình thức, mức độ và nội dung vi phạm khác nhau. Những hành vi vi phạm đó là tiền đề dẫn tới hậu quả pháp lý tất yếu là chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam. Thực tiễn ký kết và thực hiện HĐXD xảy ra các loại hành vi vi phạm cơ bản sau đây:

3. Hành vi vi phạm về khối lượng và chất lượng các công việc theo Hợp đồng xây dựng

Điều khoản khối lượng và chất lượng công việc xây dựng là những điều khoản chủ yếu trong nội dung HĐXD. Pháp luật quy định nội dung và khối lượng công việc mà bên giao thầu ký kết với bên nhận thầu phải được các bên thỏa thuận rõ trong hợp đồng. Nội dung khối lượng công việc được xác định căn cứ vào hồ sơ mời thầu hoặc hồ sơ yêu cầu, hồ sơ dự thầu hoặc hồ sơ đề xuất, các biên bản đàm phán và các văn bản pháp lý có liên quan. Đối với HĐXD, nội dung khối lượng công việc thực hiện là việc cung cấp vật liệu xây dựng, nhân lực, máy móc và thiết bị xây dựng.
Khối lượng được tính toán, xác nhận giữa CĐT, NTXD và tư vấn giám sát theo thời gian hoặc giai đoạn và được đối chiếu với khối lượng thiết kế được duyệt để làm cơ sở nghiệm thu, thanh toán cho nhà thầu theo hợp đồng. Về nguyên tắc, việc xây dựng phải được thực hiện theo khối lượng thiết kế đã được xác định hoặc chấp thuận của các bên. Các hành vi vi phạm về khối lượng xây dựng là các hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng khối lượng theo thiết kế đã được phê duyệt và theo thỏa thuận giữa các bên trong hợp  đồng. Đó  thường  là những hành vi không cung cấp hoặc cung cấp vật liệu xây dựng, nhân lực, máy móc thiết bị không đủ hoặc thiếu khối lượng đã được tính toán, xác nhận theo hợp đồng... Các hành vi vi phạm về khối lượng xây dựng thường dẫn đến hệ quả kéo theo là vi phạm về chất lượng và tiến độ xây dựng. Chính vì thế mà các loại hành vi vi phạm HĐXD có mối liên quan chặt chẽ với nhau, việc phân chia các loại hành vi vi phạm một cách rõ ràng và tách bạch với nhau chỉ mang tính chất tương đối.
Trong quá trình xây dựng, khối lượng phát sinh ngoài thiết kế, dự toán đã phê duyệt là vấn đề thường xảy ra. Theo quy định, khi có khối lượng công việc phát sinh ngoài thiết kế, dự toán được duyệt thì chủ đầu tư và nhà thầu thi công phải xem xét xử lý tùy theo từng hình thức hợp đồng (giá HĐXD) theo quy định và tùy theo nguồn vốn của hợp đồng mà có cách thức xử lý khác nhau. Khối lượng phát sinh được CĐT, người có thẩm quyền quyết định đầu tư chấp thuận, phê duyệt và được các bên thỏa thuận bổ sung theo HĐXD đã ký kết được thực hiện theo phụ lục của hợp đồng và là cơ sở để thực hiện hợp đồng cũng như xác định hành vi vi phạm hợp đồng. Các hành vi thông đồng giữa các bên nhằm mục đích khai khống, khai tăng khối lượng thi công dẫn đến làm sai khối lượng thanh toán không phải là hành vi vi phạm HĐXD mà đó là những hành vi vi phạm pháp luật về quản lý xây dựng. Những người tham gia và thực hiện sẽ phải chịu các chế tài khác theo quy định của pháp luật. Chất lượng xây dựng thể hiện ở chất lượng của các sản phẩm xây dựng mà bên nhận thầu thực hiện. Chất lượng của các sản phẩm xây dựng phải đáp ứng các yêu cầu theo thiết kế xây dựng đã được phê duyệt và theo quy định của pháp luật. Đó là sự phù hợp với quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng (tiêu chuẩn Quốc tế, Việt Nam, và ngành) và đúng với các bước thiết kế đã được phê duyệt và thống nhất. Sản phẩm xây dựng là các công trình, hạng mục công trình chỉ được nghiệm thu để đưa vào sử dụng khi đáp ứng được các yêu cầu của thiết kế, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn áp dụng cho công trình, chỉ dẫn kỹ thuật và các yêu cầu khác của CĐT theo nội dung của hợp đồng và quy định của pháp luật có liên quan. Hành vi vi phạm về chất lượng xây dựng công trình là những hành vi của nhà thầu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng cũng như thiết kế đã được phê duyệt dẫn đến sản phẩm xây dựng không đảm bảo chất lượng theo yêu cầu. Cụ thể đó có thể là những hành vi: Không thi công theo bản vẽ thiết kế xây dựng (kể cả phần sửa đổi đã được chủ đầu tư chấp thuận); thi công không phù hợp với hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn được áp dụng cho dự án; không thực hiện việc thí nghiệm vật liệu xây dựng; không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ về các kết quả thí nghiệm vật liệu, sản phẩm của công việc hoàn thành; không đảm bảo vật tư, thiết bị có nguồn gốc xuất xứ như quy định trong hợp đồng; không thực hiện hoặc thực hiện không đúng công tác nghiệm thu sản phẩm các công việc hoàn thành theo yêu cầu...

4. Hành vi vi phạm về thời gian, tiến độ thi công xây dựng theo hợp đồng Thời gian, tiến độ thực hiện hợp đồng

và quan trọng của HĐXD. Thời gian thực hiện hợp đồng được tính từ ngày hợp đồng có hiệu lực cho đến khi các bên hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng  và phải phù hợp với tiến độ thực hiện dự án. Theo quy định, bên nhận thầu có trách nhiệm lập tiến độ chi tiết thực hiện hợp đồng trình bên giao thầu chấp thuận để làm căn cứ thực hiện. Tiến độ thực hiện hợp đồng phải thể hiện được các mốc hoàn thành, bàn giao các công việc, sản phẩm chủ yếu. Về nguyên tắc, tiến độ xây dựng công trình phải phù hợp với tổng tiến độ của dự án và đã được người có thẩm quyền phê duyệt, tuy nhiên tiến độ xây dựng thường ngắn hơn tổng tiến độ của dự án đề phòng trường hợp chậm tiến độ thi công sẽ không ảnh hưởng đến tiến độ dự án. CĐT, tổ chức tư vấn giám sát và các bên liên quan có trách nhiệm theo dõi, giám sát tiến độ thi công xây dựng, điều chỉnh tiến độ từng giai đoạn chi tiết nhưng không được làm ảnh hưởng đến tổng tiến độ của dự án. Trường hợp khả năng tiến độ bị kéo dài so với kế hoạch thì CĐT phải báo cáo với người có thẩm quyền điều chỉnh tổng tiến độ của dự án cho phù hợp với thực tế. Các hành vi vi phạm về thời gian, tiến độ thi công xây dựng thường là hành vi của bên nhận thầu đã thi công chậm so với tiến độ yêu cầu (tiến độ đã được lập và thỏa thuận theo hợp đồng) dẫn đến làm ảnh hưởng đến tổng tiến độ của dự án. Căn cứ để xác định việc chậm tiến độ chính là việc so sánh tiến độ mà nhà thầu đã thực hiện trong giai đoạn thi công so với tiến độ xây dựng đã được phê duyệt và tổng tiến độ của dự án trong dự án đầu tư xây dựng.

5. Hành vi vi phạm về tạm ứng hợp đồng và thanh toán Hợp đồng xây dựng

Tạm ứng HĐXD là khoản kinh phí mà bên giao thầu ứng trước cho bên nhận thầu để triển khai thực hiện các công việc theo hợp đồng. Theo quy định tại khoản 1, Điều 18 Nghị định 37 thì việc tạm ứng hợp đồng được thực hiện ngay sau khi HĐXD có hiệu lực và bên giao thầu đã nhận được bảo lãnh tiền tạm ứng (nếu có). Mức tạm ứng vốn, thời điểm tạm ứng và việc thu hồi tạm ứng được các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Mức tạm ứng vốn tối thiểu được pháp luật quy định cụ thể tùy thuộc vào giá trị của Hợp đồng xây dựng được ký kết. Đó là đối với hợp đồng tư vấn: 15% giá hợp đồng đối với hợp đồng có giá trị trên 10 tỷ đồng, 20% giá hợp đồng đối với các hợp đồng có giá trị đến 10 tỷ đồng. Đối với hợp đồng thi công xây dựng công trình: 10% giá hợp đồng đối với hợp đồng có giá trị trên 50 tỷ đồng,  15% giá hợp đồng đối với hợp đồng có giá trị từ 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng, 20% giá hợp đồng đối với các hợp đồng có giá trị dưới 10 tỷ đồng. Đối với hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ, hợp đồng EC, EP, PC và EPC, hợp đồng chìa khóa trao tay và các loại hợp đồng xây dựng khác: 10% giá hợp đồng. Trường hợp các bên thỏa thuận tạm ứng ở mức cao hơn mức tạm ứng tối thiểu nêu tại Điểm a, b, c Khoản này, thì phần giá trị hợp đồng tương ứng với mức tạm ứng hợp đồng vượt mức tạm ứng tối thiểu sẽ không được điều chỉnh giá kể từ thời điểm tạm ứng. Tiền tạm ứng được thu hồi dần qua các lần thanh toán, mức thu hồi của từng lần do hai bên thống nhất ghi trong hợp đồng nhưng phải bảo đảm tiền tạm ứng được thu hồi hết khi giá trị thanh toán đạt 80% giá hợp đồng đã ký kết. 6. Bên nhận thầu phải sử dụng tạm ứng hợp đồng đúng mục đích, đúng đối tượng, có hiệu quả. Nghiêm cấm việc tạm ứng mà không sử dụng hoặc  sử  dụng không đúng  mục đích của hợp  đồng xây dựng đã ký. Đối với việc sản xuất các cấu kiện, bán thành phẩm có giá trị lớn, một số vật liệu phải dự trữ theo mùa thì bên giao thầu, bên nhận thầu thỏa  thuận kế hoạch tạm ứng và mức tạm ứng để bảo đảm tiến độ thực hiện hợp đồng.
Theo quy định, việc thanh toán hợp đồng xây dựng phải phù hợp với loại  hợp đồng, giá hợp đồng và các điều kiện trong hợp đồng mà các bên đã ký kết. Khi thanh toán theo các thỏa thuận trong hợp đồng các bên không phải ký phụ lục hợp đồng, trừ trường hợp bổ sung công việc chưa có trong hợp đồng. Các bên thỏa  thuận trong hợp đồng về số lần thanh toán, giai đoạn thanh toán, thời điểm thanh toán, thời hạn thanh toán, hồ sơ thanh toán và điều kiện thanh toán. Bên giao thầu phải thanh toán đầy đủ (100%) giá trị của từng lần thanh toán cho bên nhận thầu sau khi đã giảm trừ tiền tạm ứng, tiền bảo hành công trình theo thỏa thuận trong hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Trường hợp trong kỳ thanh toán các bên chưa đủ điều kiện để thanh toán theo đúng quy định của hợp đồng (chưa có dữ liệu để điều chỉnh giá, chưa đủ thời gian để xác định chất lượng sản phẩm,...) thì có thể tạm thanh toán. Khi đã đủ điều kiện để xác định giá trị thanh toán thì bên giao thầu phải thanh toán cho bên nhận thầu theo đúng quy định tại Khoản 3 Điều 19, Nghị định 37. Đối với hợp đồng trọn gói: Thanh toán theo tỷ lệ phần trăm giá hợp đồng hoặc giá công trình, hạng mục công trình, khối lượng công việc tương ứng với các giai đoạn thanh toán mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng, khi thanh toán không đòi hỏi có xác nhận khối lượng hoàn thành chi tiết. Đối với hợp đồng theo đơn giá cố định và đơn giá điều chỉnh: Thanh toán trên cơ sở khối lượng thực tế hoàn thành (kể cả khối lượng tăng hoặc giảm, nếu có) được nghiệm thu của từng lần thanh toán và đơn giá trong hợp đồng hoặc đơn giá đã điều chỉnh theo  đúng các thỏa thuận trong hợp đồng. Đối với hợp đồng theo thời gian việc thanh toán được quy định như sau: Chi phí cho chuyên gia được xác định trên cơ sở mức lương cho chuyên gia và các chi phí liên quan do các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhân với thời gian làm việc thực tế được nghiệm thu (theo tháng, tuần, ngày, giờ). Các khoản chi phí ngoài mức thù lao cho chuyên gia thì thanh toán theo phương thức thanh toán quy định trong hợp đồng. Đối với hợp đồng theo giá kết hợp, việc thanh toán phải thực hiện tương ứng với quy định về thanh toán hợp đồng xây dựng được quy định từ Khoản 5, 6, 7 Điều 19, Nghị định 37. Việc thanh toán các khối lượng phát sinh (ngoài hợp đồng) chưa có đơn giá trong hợp đồng thực hiện theo các thỏa thuận hợp đồng hoặc thỏa thuận bổ sung hợp đồng mà các bên đã thống nhất trước khi thực hiện và phải phù hợp với các quy định của pháp luật có liên quan. Thời hạn thanh toán do các bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với quy mô và tính chất của từng hợp đồng. Thời hạn thanh toán không được kéo dài quá 14 ngày làm việc kể từ ngày bên giao thầu nhận đủ hồ sơ thanh toán hợp lệ theo thỏa thuận trong hợp đồng và được quy định cụ thể như sau: Trong thời hạn bảy (07) ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị thanh toán hợp lệ của bên nhận thầu, bên giao thầu phải hoàn thành các thủ tục và chuyển đề nghị thanh toán tới ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước phục vụ thanh toán. Trong thời hạn bảy (07) ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ thanh toán hợp lệ của bên giao thầu, ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước phục vụ thanh toán phải chuyển đủ giá trị của lần thanh toán đó cho bên nhận thầu.Đối với các hợp đồng xây dựng thuộc các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ODA, vốn vay của các tổ chức tín dụng nước ngoài thời hạn thanh toán thực hiện theo quy định của Điều ước quốc tế. Khi thỏa thuận về thời hạn thanh toán các bên phải căn cứ các quy định của Điều ước quốc tế và quy trình thanh toán vốn đầu tư theo quy định của pháp luật để thỏa thuận trong hợp đồng cho phù hợp. Bên giao thầu không được không thanh toán đầy đủ hoặc không đúng thời hạn theo các thỏa thuận trong hợp đồng cho bên nhận thầu.
Hành vi vi phạm về tạm ứng và thanh toán HĐXD là hành vi của bên giao thầu không thực hiện việc tạm ứng vốn hoặc tạm ứng vốn không đúng theo thỏa thuận hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ tạm ứng vốn theo các lần tạm ứng vốn khác nhau; không thực hiện thanh toán hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận.

6. Hành vi vi phạm nghĩa vụ về quản lý an toàn lao động trong quá trình thi công xây dựng

Theo quy định hiện hành, NTXD có trách nhiệm áp dụng các biện pháp an toàn cho người và công trình trên hiện trường xây dựng. Trường hợp các biện pháp an toàn có liên quan đến các bên hoặc nhiều bên thì phải được các bên thống nhất thỏa thuận. Các biện pháp an toàn, nội quy an toàn phải được công khai trên công trường để mọi người biết và chấp hành. Những vị trí nguy hiểm đến tính mạng con người phải bố trí người cảnh báo, hướng dẫn đề phòng tai nạn, nhà thầu thi công và chủ đầu tư (giám sát thi công của CĐT) và các bên liên quan phải thường xuyên kiểm tra, giám sát công tác an toàn lao động trên công trường. Máy, thiết bị thi công có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động phải được kiểm định, đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định thì mới được phép hoạt động trên công trường. Khi hoạt động phải tuân thủ quy trình, biện pháp đảm bảo an toàn. Khi xảy ra sự cố phải xử lý và giải quyết sự cố theo đúng quy định của pháp luật.
Hành vi vi phạm về an toàn lao động trên công trường chủ yếu là hành vi của NTXD không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định và các thỏa thuận về quản lý an toàn lao động trên công trường xây dựng. Đó là hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng các quy định về bảo hộ lao động cho công nhân và nhân viên tại công trường; không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các biện pháp che chắn an toàn, không có nội quy về an toàn lao động; người lao động không được đào tạo về an toàn lao động đối với những công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động.

7. Hành vi vi phạm nghĩa vụ về quản lý môi trường xây dựng trong quá trình thi công xây dựng

Theo quy định, NTXD phải có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo đảm môi trường cho người lao động trên công trường cũng như bảo vệ môi trường xung quanh ngoài công trường, kể cả trên đường giao thông (khi vận chuyển đất, đá, vật liệu xây dựng) như các biện pháp chống bụi, chống ồn, xử lý phế thải và thu dọn vệ sinh hiện trường tập kết theo đúng nơi quy định, xe cộ phải đóng bục, che chắn không để rơi vãi và vệ sinh trước khi ra công trường. NTXD, CĐT phải có trách nhiệm kiểm tra thường xuyên việc thực hiện bảo vệ môi trường xây dựng đồng thời phải chịu sự giám sát của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường.
Hành vi vi phạm về quản lý môi trường xây dựng là những hành vi của NTXD không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các biện pháp chống bụi, chống ồn, che chắn và vệ sinh công trường, đường giao thông theo quy định của pháp luật và hợp đồng đã ký kết.

8. Các hành vi vi phạm khác theo Hợp đồng xây dựng

Hành vi vi phạm khác theo HĐXD là những hành vi vi phạm các nghĩa vụ khác của mỗi bên trong HĐXD. Theo đó, mỗi bên đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết theo hợp đồng. Đối với bên giao thầu, các hành vi vi phạm khác có thể là những vi phạm về nghĩa vụ cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị xây dựng trong trường hợp bên giao thầu có nghĩa vụ này; không bàn giao hoặc chậm bàn giao mặt bằng xây dựng theo tiến độ thi công cho bên nhận thầu quản lý, thi công; kéo dài, trì hoãn việc nghĩa vụ nghiệm thu xây dựng khi đã đủ điều kiện nghiệm thu…Đối với bên nhận thầu, các hành vi vi phạm khác có thể là chậm tiếp nhận, quản lý mặt bằng xây dựng; không bảo quản tim, cốt, mốc giới công trình; không ghi hoặc ghi không đúng nhật ký thi công xây dựng; không quản lý lao động trên công trường dẫn đến gây mất trật tự an ninh, ảnh hưởng đến dân cư xung quanh; không lập biện pháp thi công hoặc thi công không đúng biện pháp đã lập; không thực hiện đúng nghĩa vụ hoàn trả mặt bằng theo thỏa thuận và vi phạm các nghĩa vụ khác.
Qua những phân tích nêu trên, có thể nhận thấy những dấu hiệu cơ bản để xác định hành vi vi phạm HĐXD. Đó là: hành vi vi phạm chỉ phát sinh trực tiếp trong lĩnh vực ký kết và thực hiện HĐXD; có thể thể hiện dưới dạng hành vi hành động hoặc hành vi không hành động; cơ sở pháp lý để đánh giá tính trái pháp luật của hành vi vi phạm là thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của pháp luật có liên quan. Hành vi vi phạm HĐXD là căn cứ chủ yếu và quan trọng nhất làm áp dụng chế tài do vi phạm HĐXD.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty Luật Minh Khuê