- 1. Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ
- Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162
- 2. Bình luận tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ?
- 3. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định như thế nào?
- Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162
- 4. Bình luận về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác?
- 5. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp
- 6. Bình luận tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề
1. Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ
được quy định như thế nào?
Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ được quy định tại Điều 137 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể như sau:
Điều 137. Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ
1. Người nào trong khi thỉ hành công vụ dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%), thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau dây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Đối với 02 người trở lên, mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của moi người 31%) trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, om đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ.
3. Người phạm tội còn cojhe bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cẩm hành nghề hoặc làm công việc ỉihẩt định từ 01 năm đến 05 năm.
Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162
2. Bình luận tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ?
Điều luật gồm 3 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định các dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ; khoản 2 quy định các trường hợp phạm tội tăng nặng và khoản 3 quy định khung hình phạt bổ sung.
Dấu hiệu chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ là chủ thể đặc biệt. Người phạm tội này chỉ có thể là những người đang thi hành công vụ. Trong đó, “Người thi hành công vụ là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và cũng có thể là những công dân được huy động làm nhiệm vụ (như tuần tra, canh gác...) theo kế hoạch của cơ quan có thấm quyền, phục vụ lợi ích chung của Nhà nước, của xã hộĩ\(Xỉi} Họ là người do tính chất công việc được giao nên được phép dùng vũ lực trong những trường hợp nhất định để thực hiện nhiệm vụ của mình. Công dân tự nguyện tham gia vào việc bảo vệ trật tự, trị an (như đuổi bắt người phạm tội) cũng được xem như người thi hành công vụ.
Theo Điều 12 BLHS, chủ thể của tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHsiI)9)
Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan của tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ được quy định là hành vi dùng vũ lực (để thực hiện công vụ) ngoài những trường hợp pháp luật cho phép.
Thông thường, hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi sử dụng vũ khí ngoài những trường hợp pháp luật cho phép.
Để xác định hành vi khách quan của tội phạm này cần căn cứ vào Điều 23 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017. Những hành vi dùng vũ khí ngoài những trường hợp mà Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017 cho phép đều bị coi là hành vi dùng vũ khí ngoài những trường hợp pháp luật cho phép và có thể trở thành hành vi khách quan của tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành QỘng vụ.
Dấu hiệu hậu quả của tội phạm
Dấu hiệu hậu quả của tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ là hậu quả thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % trở lên. Hậu quả này có nguyên nhân là hành vi dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép hay nói cách khác, người thi hành công vụ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác đã xảy ra khi hậu quả này và hành vi dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép mà họ đã thực hiện có QHNQ với nhau.
Dấu hiệu lỗi của chủ thể
Lỗi của chủ thể là lỗi cố ý (dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép).
- Dấu hiệu động cơ phạm tội
Động cơ được quy định là động cơ thi hành công vụ vì lợi ích chung.
Như vậy, những hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác do hống hách, coi thường tính mạng của người khác hoặc do tư thù đều không thuộc hành vi phạm tội của tội phạm này.
Khung hình phạt được áp dụng
Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Khung hình phạt này nhẹ hơn so với các khung hình phạt của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác vì đây cũng là trường hợp có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đặc biệt tương tự như ở tội làm chết người trong khi thi hành công vụ.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm được áp dụng cho trường hợp có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Đối với 02 người trở lên, mà tỳ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lèn: Đây là trường hợp hành vi dùng vũ lực ngoài các trường hợp pháp luật cho phép đã xâm phạm sức khỏe của nhiều người và tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người là 31% trở lên;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61%) trở lên: Đây là trường hợp hành vi dùng vũ lực ngoài các trường hợp pháp luật cho phép đã xâm phạm sức khỏe của 01 người nhưng tỷ lệ tổn thương cơ thể của họ là 61% trở lên;
- Đổi với ngườỉ dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già ỳếu, om đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ: Đây là trường hợp hành vi dùng vũ lực ngoài các trường hợp pháp luật cho phép đã xâm phạm sức khỏe chỉ của 01 người nhưng họ là đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt.
Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt bổ sung (có thể được áp dụng) là: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
3. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định như thế nào?
Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể như sau:
Điều 138. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1. Người nào vô ỷ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỳ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%), thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ 01 năm đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Đổi với 02 người trở lên mà tỷ lệ tắn thương cơ thể cùa mỗi người từ 31%) đến 60%o;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61%) trở lên.
3. Phạm tội đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của moi người 61%) trở lên, thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ 02 năm đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.
Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162
4. Bình luận về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác?
Điều luật gồm 3 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định dấu hiệu pháp lý của tội phạm và khung hình phạt cơ bản của tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; các khoản 2, 3 quy định các trường hợp phạm tội tăng nặng.
- Dấu hiệu chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.
- Dấu hiệu hành vỉ khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi vi phạm quy tắc an toàn cho con người nói chung, trong đó có an toàn cho sức khỏe. Tương tự như ở quy tắc an toàn cho tính mạng, quy tắc an toàn cho sức khỏe cũng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể đã được quy phạm hoá hoặc có thể chỉ là những quy tắc xử sự xã hội thông thường, mọi người đều biết và thừa nhận. Một số hành vi vi phạm quy tắc an toàn thuộc một số lĩnh vực có thể được quy định là tội phạm ở những điều luật riêng khác. Trong trường hợp như vậy, hành vi vỉ phạm quy tắc an toàn không còn là hành vi khách quan của tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà là hành vi khách quan của những tội phạm khác đó. Ví dụ: Hành vi vi phạm quy tắc an toàn giao thông (Điều 260, Điều 267, Điều 272... BLHS), hành vi vi phạm quy tắc an toàn lao động (Điều 295 BLHS)...
- Dấu hiệu hậu quả của tội phạm
Hậu quả của hành vi khách quan nêu trên được quy định là thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 31% trở lên. Giữa hậu quả đã xảy ra này và hành vi vi phạm quy tắc an toàn cho sức khỏe đã thực hiện phải có QHNỌ với nhau.
- Dấu hiệu lỗi của chủ thể
Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi vô ý, có thể là vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả.
Trong trường hợp vô ý vì quá tự tin, người phạm tội nhận thức hành vi vi phạm của mình là nguy hiểm cho xã hội, có thể gây ra hậu quả thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe nhưng đã quá tự tin là hậu quả đó sẽ không xảy ra nhưng thực tế hậu quả đó vẫn xảy ra. Còn trong trường hợp vô ý do cẩu thả, người phạm tội không thấy trước hậu quả này mặc dù với địa vị cụ thể của mình họ phải thấy trước và có đủ điều kiện thấy trước hậu quả đó.
Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 20 triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 01 năm.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ nhất là phạt cải tạo không giam giữ từ 01 năm đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- (Phạm tội) đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tắn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%: Đây là trường hợp có nhiều nạn nhân và tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi nạn nhân là 31% đến 60%.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên: Đây là trường hợp chỉ có 01 nạn nhân nhưng tỷ lệ tổn thương cơ thể của họ là 61% trở lên.
Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ hai là phạt cải tạo không giam giữ từ 02 năm đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội đổi với 02 người trờ lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thế của môi người 61% trở lên: Đây là trường hợp phạm tội có nhiều nạn nhân và tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người là từ 61% trở lên.
5. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp
hoặc quy tắc hành chính được quy định như thế nào?
Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính được quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể như sau:
Điểu 139. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính
1. Người nào vô ỷ gây thương tích hoặc gãy tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chỉnh mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đằng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ 02 năm đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đoi với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
b) Gãy thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61%> trở lên.
3. Phạm tội đối với 02 người trở lên mà tỳ lệ tổn thương cơ thể của moi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.
4. Người phạm tội cộn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
6. Bình luận tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề
nghiệp hoặc quy tắc hành chính
Điều luật gốm 4 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định các dấu hiệu pháp lý của tội phạm và khung hình phạt cơ bản; các khoản 2, 3 quy định các trường hợp phạm tội tăng nặng và khoản 4 quy định khung hình phạt bổ sung.
Theo khoản 1 của điều luật, tội phạm này có các dấu hiệu pháp lý sau:
- Dấu hiệu chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính là người có nghĩa vụ tuân thủ quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.
- Dấu hiệu hành vỉ khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan của tội phạm này được quy định là hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc an toàn đến con người, trong đó có an toàn về sức khỏe như hành vi khách quan của tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng có điểm đặc biệt. Quy tắc an toàn bị vi phạm ở tội này là quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính. Điều này có nghĩa, chủ thể của tội phạm này phải có nghĩa vụ tuân thủ quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính để đảm bảo an toàn cho người khác, trong đó có an toàn về sức khỏe.
- Dấu hiệu hậu quả của tội phạm
Hậu quả của tội phạm được quy định là hậu quả thương tích hoặc hậu quả tổn hại cho sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % trở lên. Hậu quả này có nguyên nhân là hành vi vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính hay nói cách khác, người có hành vi vi phạm quy tắc nghề nghiệp hay quy tắc hành chính chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả đã xảy ra khi hành vi vi phạm của họ và hậu quả này có QHNQ với nhau.
- Dấu hiệu lỗi của chủ thể
Lỗi của người phạm tội được quy định là lỗi vô ý, có thể là vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả.
Trong trường hợp vô ý vì quá tự tin, người phạm tội nhận thức hành vi vi phạm của mình là nguy hiểm cho xã hội, có thể gây ra hậu quả thương tích hoặc hậu quả tổn hại cho sức khỏe nhưng đã quá tự tin là hậu quả đó sẽ không xảy ra nhưng thực tế hậu quả đó vẫn xảy ra. Còn trong trường hợp vô ý do cẩu thả, người phạm tội không thấy trước hậu quả thương tích hoặc hậu quả tổn hại cho sức khỏe mặc dù với địa vị cụ thể của mình họ phải thấy trước và có đủ điều kiện thấy trước hậu quả này.
Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. So với các khung hình phạt của tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, khung hình phạt này cũng như các khung hình phạt tăng năng của tội phạm này đều nặng hơn vì tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm nguyên tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính nói chung nguy hiểm hơn tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Quy tắc nghề nghiệp và quy tắc hành chính không chỉ có tính cụ thể, rõ ràng hơn mà còn đòi hỏi chủ thể có trách nhiệm cao hơn trong việc tuân thủ.
Khòản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ nhất là phạt cải tạo không giam giữ từ 02 năm đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm được áp dụng cho trường họp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60°/o: Đây là trường hợp có nhiều nạn nhân và tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người đều ở mức độ nghiêm trọng là từ 31% đến 60%.
- Gây thương tích hoặc gãy tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61%> trở lên: Đây là trường họp chỉ có 01 nạn nhân nhưng tỷ lệ tổn thương cơ thể ở mức độ rất nghiêm trọng là 61% trở lên.
Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ 02 năm đên 05 năm được áp dụng cho trường
hợp phạm tội đổi với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên'. Đây là trường hợp vừa có nhiều nạn nhân và tỷ lệ tổn thương cơ thể đều ở mức độ rất nghiêm trọng là 61% trở lên.
Khoản 4 của điều luật quy định khung hình phạt bổ sung (có thể được áp dụng) là: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
.png)
.png)