1. Vụ gây ô nhiễm môi trường biển do công ty Formosa gây ra
Vụ gây ô nhiễm môi trường biển do công ty Formosa “lộ ra” từ hiện tượng các chết ngày 6-4-2016 trên vùng biển cảng Vũng Áng thuộc địa phận thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Hiện tượng thủy sản chết lan trên diện rộng, bắt đầu từ vùng ven biển Hà Tĩnh, lan tiếp dọc ven biển các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế. Sự cố này đã gây thiệt hại nặng nề về kinh tế, xã hội và môi trưởng, trong đó chịu ảnh hưởng nặng nhất là ngành thủy sản, tiếp đến là hoạt động kinh doanh, dịch vụ, du lịch và đời sống sinh hoạt của ngư dân.
Nguyên nhân gây ra sự cố môi trường làm hải sản chết hàng loạt tại ven biển bốn tỉnh miền Trung được xác định do công ty Formosa gây ra trong quá trình vận hành thử nghiệm tổ hợp nhà máy, đã có những vi phạm và để xảy ra sự cố, dẫn tới nước thải có chứa độc tố phenol, xyanua chưa được xử lý đạt chuẩn xả ra môi trường.
Trưởng ban Quản lý khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh, cho biết hệ thống đường ống xả thải dài 1,5 km, đường kính 1,5 m được Bộ Tài nguyên - Môi trường (TN-MT) cho phép lắp đặt để xả nước thải đã qua xử lý của Formosa, nằm trong báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã được cơ quan chức năng phê duyệt.
Theo Giám đốc bộ phận an toàn vệ sinh môi trường của Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (chủ đầu tư dự án Formosa), mỗi ngày đêm, dự án Formosa xả thải 12.000 m3 nước thải, tuy nhiên nguồn nước này trước khi xả thải ra môi trường đã được xử lý qua quy trình tự động khép kín, đạt tiêu chuẩn của Bộ TN-MT.
Tuy nhiên, theo Phó tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, Bộ TN-MT lại khẳng định: “đến nay, Formosa chưa được cấp phép xả thải xuống biển. Hiện các cơ quan chức năng của Bộ vẫn đang tiến hành các bước thủ tục kiểm tra, thẩm định cần thiết. Nếu hệ thống xử lý nước thải, xả thải đạt tiêu chuẩn mới được cấp phép hoạt động”. Theo ông, việc lấy mẫu nước thải của dự án Formosa để kiểm tra được tiến hành định kỳ 1 lần/quý.
Như vậy, có thể thấy bộ nói chưa, chủ đầu tư nói đã cấp phép.
Sự cố môi trường này đã gây thiệt hại hệ sinh thái biển và nguồn lợi hải sản, ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất, kinh doanh đời sống khoảng 510.000 người thuộc 130.000 hộ dân ở 730 thôn/xóm tại 146 xã/phường/thị trấn của 22 huyện vùng ven biển thuộc 4 tỉnh miền Trung.
Công ty Formosa đã nhận trách nhiệm, xin lỗi Chính phủ, nhân dân và bồi thường 500 triệu USD.
2. Trường hợp gây ô nhiễm môi trường của công ty Vedan Việt Nam
Trường hợp công ty TNHH Vedan - doanh nghiệp 100% vốn Đài Loan đóng tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, đã trực tiếp xả nước thải chưa qua xử lý, liên tục trong nhiều năm, gây ô nhiễm nặng dòng sông Thị vải, bất chấp tuân thủ quy định pháp luật của Việt Nam. Vụ việc nghiêm trọng này đã được Bộ Tài nguyên và môi trường và lực lượng cảnh sát môi trường Việt Nam phát hiện từ tháng 9/2008 và yêu cầu xử lý theo quy trình tố tụng của pháp luật hiện hành.
Hàng nghìn nông dân sống dọc sông Thị Vải đã viết đơn khiếu kiện, tố cáo công ty TNHH Vedan gây ô nhiễm môi trường, gây thiệt hại và ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống và kinh tế của họ, đồng thòi yêu cầu cơ quan tố tụng ra phán xét và bắt buộc công ty TNHH Vedan bồi thường cho những thiệt hại mà họ đã phải gánh chịu. Sau nhiều lần thương lượng, mặc cả không thành, chỉ đến khi các tổ chức xã hội dân sự vào cuộc (công luận chỉ trích, Hiệp hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Hiệp hội Siêu thị - tẩy chay sản phẩm của Vedan, Hội Luật gia, luật sư, Hội Nông dân,...), cơ quan quản lý về môi trường chỉ đạo và quyết định tạm ứng án phí cho dân, và chỉ đạo các ngành, các cấp, các tổ chức đoàn thể vào cuộc hỗ trợ người dân tiến hành các thủ tục pháp lý cần thiết để kiện đòi bồi thường thiệt hại thì yêu cầu của người bị hại môi được giải quyết.
Điều này cho thấy, những rào cản và thách thức về mặt khoa học, pháp lý mà các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, cơ quan tố tụng pháp luật, và các tổ chức mong muốn đại diện cho người bị thiệt hại hiện đang phải đối mặt.
3. Về nhận thức
Trong hoạch định chính sách: vẫn tồn tại tư tưởng xem nhẹ yếu tố bảo vệ môi trường, mặc dù Luật Bảo vệ môi trường đã quy định đánh giá môi trường chiến lược (SEA) phải được thực hiện cho các dự án mới, nhưng việc thực hiện vẫn chỉ trên danh nghĩa của SEA (một số dự án quy mô lớn đã được phê duyệt trước khi đánh giá tác động môi trường hoàn tất). Các quy định còn thiếu các cơ sở khoa học dẫn đến phần lớn các chính sách và văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường được ban hành thiếu thực tế, nhiều mục tiêu định lượng không được đáp ứng (ví dụ QĐ số 64 của Thủ tướng Chính phủ đặt ra mục tiêu phải giải quyết 493 Công ty gây ô nhiễm nghiêm trọng vào năm 2010, nhưng đến cuối 2009 mới có khoảng 1/2 số đơn vị thực hiện các biện pháp giải quyết ô nhiễm theo yêu cầu). Nguồn nhân lực (con người và tài chính) không đủ để hỗ trợ thực hiện được các mục tiêu,.. Thiếu sự cam kết từ phía doanh nghiệp trong hoạch định chính sách cụ thể...
Nhận thức của cộng đồng: không chỉ thiệt hại về mặt kinh tế, những vụ việc, sự cố nêu trên còn gây tác động tiêu cực đến sức khỏe, đời sống sinh hoạt, các hoạt động phát triển du lịch, kinh tế của cộng đồng dân cư khu vực lân cận. Tuy nhiên, phần lớn cộng đồng quan tâm trước tiên là việc làm và thu nhập hơn là sức khỏe bị giảm sút.
Các doanh nghiệp quan tâm trước tiên là lợi nhuận & thu hồi vốn nhanh, các biện pháp xử lý chất thải chỉ mang tính đồi phó (chi phí thấp nhất).
Môi trường phải thực sự được xác định là một trong ba trụ cột của phát triển kinh tế bền vững bên cạnh kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, trong những năm qua, nhiều địa phương đã quá coi trọng thu hút đầu tư, chưa quan tâm đúng mức tới bảo vệ môi trường.
4. Các thể chế và chính sách pháp luật
Các quy định chồng chéo (từ cơ chế kiểm tra và xử lý ô nhiễm đến cơ chế tài chính, kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải đến cơ chế đánh giá tác động, cơ cấu tổ chức); các quy định ban hành thường không được nghiên cứu đầy đủ (thiếu bằng chứng khoa học và phân tích lợi ích chi phí) và quy trình phát triển thường thiếu đầu vào từ các bên liên quan đến các quy định ban hành không chỉ đúng các nhu cầu xã hội đang bức xúc (QĐ 154 - miễn thủy lợi phí cho nông dân dẫn đến chất lượng dịch vụ của công ty quản lý thủy lợi kém, họ không chú ý nhiều đến nhu cầu của nông dân, còn người dân không phải trả phí, nên đã dùng nước lãng phí,...). Hoặc theo Luật Môi trường 2005 quy định cấm nhập khẩu chất thải nhưng trong thực tế, mỗi năm, hàng ngàn tấn phế liệu bao gồm cả kim loại và phế liệu giấy được nhập khẩu để tái chế và cung cấp đầu vào cho các quá trình sản xuất. Vì vậy cần đưa ra định nghĩa chất thải cho phù hợp hơn.
Tổng kết gần 5 năm triển khai thực hiện Luật BVMT 2014 cho thấy, bên cạnh kết quả tích cực, Luật đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế, cần thiết phải được sửa đổi, bổ sung để bảo đảm phù hợp với thực tế:
Cơ chế, chính sách BVMT chưa phù hợp và đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường. Các loại thuế, phí về môi trường theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” để xử lý, khắc phục, cải tạo và phục hồi môi trường, “người hưởng lợi từ giá trị môi trường phải trả tiền” chưa phát huy được vai trò là công cụ kinh tế điều tiết vĩ mô, hạn chế các hoạt động gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo hướng tăng trưởng xanh. Các quy định của Luật chưa tạo ra hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi để khuyến khích sản xuất, tiêu thụ bền vững, phát triển dịch vụ môi trường, sản phẩm, hàng hoá thân thiện với môi trường, khuyến khích xã hội hóa trong một số hoạt động BVMT.
Một số vấn đề mới phát sinh về BVMT chưa có hành lang pháp lý để điều chỉnh: Thực tế trong thời gian qua cho thấy phát sinh nhiều sự cố ô nhiễm, suy thoái môi trường lớn, diễn ra trên diện rộng,bùng phát các điểm nóng về môi trường do xả thải. Tuy vậy, hiện nay chưa có cơ sở pháp lý về cơ chế, các tiêu chí sàng lọc, phân loại, phân luồng các dự án đầu tư theo mức độ rủi ro về môi trường; cơ chế kiểm soát đặc thù đối với các đối tượng có nguy cơ cao gây ô nhiễm, sự cố môi trường. Do đó, cần bổ sung các quy định về sàng lọc, phân loại, phân luồng dự án đầu tư, cơ chế đặc thù tăng cường kiểm soát đối với các đối tượng này để giải quyết thực tiễn quản lý môi trường đang đặt ra bức thiết hiện nay.
5. Yếu trong thực thi chính sách
Cơ quan quản lý môi trường các cấp không đủ năng lực để thực thi, cả về trình độ và chuyên môn (thể hiện qua hành vi xả thải ô nhiễm ra môi trường với số lượng gấp hàng trăm lần so với mức cho phép, liên tục, kéo dài và qua thanh tra kiểm tra nhiều lần nhưng không phát hiện được vi phạm).
Vedan thừa nhận hành vi sai phạm, nhưng Vedan cho rằng dọc sông Thị vải, không chỉ có một mình Công ty Vedan mà có đến 77 xí nghiệp và khu công nghiệp mỗi ngày xả thải ra sông hơn 33.000 m3 vối lượng thải qua xử lý chỉ chiếm khoảng 15 - 16% nên việc áp đặt cho Vedan phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người dân là không thể. Vì vậy quan điểm của Vedan là “không bồi thường thiệt hại” mà chỉ “hỗ trợ” cho người dân.
Các quy định thiếu tính đúng đắn với thực tiễn nhiều quy định được ban hành nhưng không được thực thi (khi tiến hành kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh cho thấy 50% các cơ sở vi phạm các quy định về môi trường).
6. Thiếu sự hợp tác của các bên liên quan ở mọi cấp độ
Cấp quốc gia: thiếu sự hợp tác giữa các nước trong khu vực (trường hợp quản lý nguồn nước sông Mekong, nó chảy qua 6 nước nhưng mỗi nước đều theo đuổi mục đích riêng nên không tìm được tiếng nói chung dẫn đến các dự án phát triển thượng nguồn đã góp phần vào sự suy thoái của đất ngập nước ở sông Mekong. Đây là một thách thức lớn để đối phó với biến đổi khí hậu).
Cơ quan quản lý các cấp (trung ương, địa phương): vai trò trách nhiệm của cơ quan chủ quản và các cơ quan liên quan, cơ quan quản lý nhà nước các cấp,... chưa làm hết trách nhiệm & quyền hạn của mình để thực hiện những biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của Nhà nước & của nhân dân (đô lỗi cho nhau, trốn trách nhiệm, ...).
7. Một số bất cập khác
- Thiếu sự tham gia của cộng đồng: chưa có công bố công khai về thông tin môi trường của các doanh nghiệp.
- Khung chính sách cho thị trường dịch vụ môi trường chưa phát triển, chính sách cũ không còn hợp lý (NĐ 154/2007/NĐ-CP miễn thủy lợi phí cho nông dân), không đủ nguồn lực tài chính cũng như con người để thực hiện.
- Quản lý ngân sách cho hoạt động bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập giữa trung ương và địa phương (hoạt động quản lý của các cơ quan chính phủ, cấp Bộ, cấp địa phương về chính sách và quy chế phát triển, thiết lập tiêu chuẩn, giám sát và kiểm tra, xây dựng năng lực con người, phát triển các cơ chế chính sách ứng phó và củng cố cơ sở hạ tầng,...).
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)