- 1. Thực hiện quyền con người trong thực tế bao gồm cả việc bảo đảm và bảo vệ
- 2. Quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật
- 3. Đặc điểm của cơ chế bảo vệ quyền con người bằng tòa án
- 4. Vị trí, vai trò của Tòa án trong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước bảo đảm quyền con người
- 5. Nguyên tắc suy đoán vô tội
1. Thực hiện quyền con người trong thực tế bao gồm cả việc bảo đảm và bảo vệ
Nếu bảo đảm quyền con người là việc tạo ra các điều kiện thuận lợi về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật văn hoá giáo dục để quyền con người được thực hiện thì bảo vệ quyền con người là việc nhà nước, xã hội thông qua pháp luật hành động chống lại những hành vi xâm hại đến quyền con người. Sự xâm phạm đến quyền con người có thể từ phía cá nhân trong xã hội cũng có thể là sự xâm phạm từ chính cơ quan công quyền. Sự xâm phạm này thể hiện ở mức độ khác nhau, cao nhất là hành vi tội phạm. Trong nhà nước pháp quyền, trách nhiệm bảo vệ quyền con người trước hết thuộc về nhà nước với các cơ quan trong bộ máy của mình trong đó có cơ quan toà án. Bảo vệ quyền con người bằng tòa án là việc toà án trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của mình và các quy định của pháp luật, xử lý những hành vi xâm phạm đến quyền con người hoặc giải quyết các tranh chấp trong xã hội nhằm bảo vệ quyền con người. Quyền được bảo vệ quyền con người là một trong những quyền cơ bản của con người. Theo Điều 8 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) thì mọi người đều có quyền được bảo vệ bởi một phương thức khắc phục hữu hiệu (right to an effective remedy). Theo đó: “Mọi người đều có quyền được các Toà án quốc gia có thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháp hữu hiệu để chống lại những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của họ mà đã được hiến pháp hay luật pháp quy định. Như vậy, việc bảo vệ quyền con người bằng hệ thống cơ quan toà án quốc gia (hay cơ quan tài phán quốc gia) là nghĩa vụ của nhà nước và là quyền của người dân.
2. Quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật
Quyền con người luôn được ghi nhận trong cả Hiến pháp và pháp luật nhưng để nó được bảo vệ trong thực tế cần có những cơ chế cụ thể, vận hành tốt không chỉ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho toà án thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền con người mà còn tạo điều kiện cho người dân tham gia tích cực vào quá trình bảo vệ đó. Mục đích cuối cùng là xử lý nghiêm minh mọi hành vi xâm phạm đến quyền con người và giải quyết các tranh chấp trong xã hội đạt được chuẩn công lý. Cơ chế bảo vệ quyền con người là khái niệm có ý nghĩa quan trọng trên nhiều phương diện. Cơ chế được hiểu là tổng thể các đảm bảo vật chất, chính trị, tư tưởng, pháp lý, tổ chức nghiệp vụ cho việc thực hiện một quyền nào đó hoặc một việc nào đó. Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ định nghĩa: cơ chế là cách thức mà theo đó một quá trình thực hiện. Như vậy, nói đến cơ chế là nói đến cơ cấu tổ chức, quá trình vận hành của một hệ thống nào đó. Dưới góc độ pháp lý, quyền con người là tổng thể các quy định của Hiến pháp, pháp luật ghi nhận và bảo vệ nó và ở trong trạng thái tĩnh. Quá trình vật chất hóa, đưa cốc quy định đó vào trong thực tiễn bằng các cách thức, các bảo đảm khác nhau như vật chất, chính trị, tư tưởng, pháp lý, tổ chức chính là cơ chế bảo vệ quyền con người.
Trên lĩnh vực quyền con người, cụm từ cơ chế của Liên hợp quốc về quyền con người (United Nations human rights mechanism) hay được sử dụng trong các tài liệu chuyên môn để chỉ bộ máy các cơ quan chuyên trách và hệ thống các quy tắc, thủ tục có liên quan do Liên hợp quốc thiết lập để thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người . Cơ chế bảo vệ quyền con người bằng toà án chính là cách thức, phương thức mà toà án căn cứ vào quy định của pháp luật thực hiện việc xử lý các hành vi xâm phạm đến quyền con người và giải quyết các tranh chấp trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều này khác với cơ chế bảo vệ quyền con người bằng con đường hành chính, hay cơ chế bảo vệ xã hội.
3. Đặc điểm của cơ chế bảo vệ quyền con người bằng tòa án
Cơ chế bảo vệ quyền con người bằng tòa án có những đặc điểm riêng phân biệt với các cơ chế bảo vệ khác. Những đặc điểm riêng này do bản chất, chức năng, nhiệm vụ, vai trò và vị trí của toà án quy định. Những đặc điểm đó là:
- Cơ chế bảo vệ quyền con người của toà án được được các tòa án áp dụng đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều này xuất phát từ tính đa dạng và phức tạp của quyền con người khi nó hiện diện trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống mà không thể có sự phân biệt đối xử các quyền con người với nhau, không thể nói quyền nào quan trọng hơn quyền nào. Bên cạnh đó, chức năng của toà án trong nhà nước pháp quyền là giải quyết mọi tranh chấp trong xã hội (tội phạm xét cho cùng cũng là việc tranh chấp giữa nhà nước và người phạm tội). Đây là điểm khác biệt với cơ chế bảo vệ quyền con người bằng con đường hành chính. Từ góc độ này có thể nói, thẩm quyền của toà án càng rộng, càng bao trùm tất cả các lĩnh vực khác nhau thì quyền con người càng được bảo vệ tốt nhất bằng con đường toà án.
- Cơ chế bảo vệ quyền con người bằng toà án được thực hiện thông qua con đường tố tụng. Tố tụng là toàn bộ trình tự, thủ tục giải quyết một vụ án tại toà án. Tố tụng bao gồm tố tụng hình sự và tố tụng phi hình sự khác như dân sự, hành chính. Quá trình bảo vệ quyền con người bằng toà án có thể bắt đầu ngay từ toà án như việc giải quyết các tranh chấp dân sự, hành chính, cũng có thể là quy trình có sự tham gia của nhiều cơ quan qua nhiều giai đoạn khác nhau như việc giải quyết các vụ án hình sự. Chính vì vậy, cũng có thể nói bảo vệ quyền con người bằng con đường tòa án hay bảo vệ quyền con người bằng con đường tư pháp. Tuy nhiên, điểm cuối cùng của cơ chế bảo vệ quyền con người bằng con đường toà án (hay tư pháp) vẫn là phán quyết của tòa án và đảm bảo thi hành phán quyết đó.
- Cơ chế bảo vệ quyền con người bằng tòa án là cơ chế pháp lý. Việc quy định tổ chức, thẩm quyền, quy tắc vận hành của hệ thống tòa án, cách hành xử của nhân viên tư pháp và thẩm phán; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào cơ chế này đều do pháp luật quy định và đảm bảo thực hiện.
- Cơ chế bảo vệ quyền con người bằng toà án chính là cơ chế hoạt động của hệ thống tòa án. Nói cách khác, bảo vệ quyền con người bằng toà án - từ quy định của pháp luật đến thực tiễn vận hành xoay quanh trục chính là hoạt động của các toà án và được quy định bằng chính những yếu tố bản chất, đặc thù của cơ quan này và làm nên sự khác biệt với các cơ chế bảo vệ quyền con người bằng con đường hành chính hay bằng hoạt động của các tổ chức xã hội. Đó chính là vấn đề độc lập xét xử của tòa án. Đặc điểm này được giải thích: “Nếu nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp thường được tổ chức và vận hành theo mục tiêu công quyền thì toà án được tổ chức vận hành theo mục tiêu vì công lý. Vì vậy, tư pháp độc lập sẽ là công cụ hữu hiệu để ngăn ngừa sự xâm hại trái pháp luật vào các quyền con người”. Bảo vệ quyền con người được đặt ra khi có sự xâm phạm từ cá nhân trong xã hội và từ phía công quyền. Mục đích xử lý tội phạm, giải quyết tranh chấp chỉ đạt đến công lý và bảo vệ được quyền con người chỉ được thực hiện bằng cơ chế tòa án khi vấn đề độc lập xét xử của toà án được đảm bảo. Hệ thống toà án được tổ chức và hoạt động nhằm bảo vệ công quyền hay bảo vệ quyền con người cũng là câu hỏi cần được giải đáp khi nghiên cứu cơ chế bảo vệ quyền con người bằng toà án.
4. Vị trí, vai trò của Tòa án trong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước bảo đảm quyền con người
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Tòa án là một trong những cơ quan nhà nước được hình thành sớm nhất xuất phát từ nhu cầu chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ thành quả cách mạng, củng cố và xây dựng chính quyền nhân dân. Trước khi Hiến pháp năm 1946 được thông qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký nhiều Sắc lệnh như: Sắc lệnh số 33C-SL ngày 13/9/1945, Sắc lệnh số 77C ngày 18/12/1945, Sắc lệnh số 13/SL ngày 21/01/1946, Sắc lệnh số 21/SL ngày 24/01/1946… thành lập hệ thống Tòa án nước ta. Quá trình phát triển của hệ thống Tòa án đã gắn liền với quá trình hoàn thiện và củng cố Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và hiện nay là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, luôn đề cao hoạt động bảo vệ quyền con gười, quyền công dân - được coi là nhân tố tạo dựng một xã hội dân chủ và tiến bộ.
Qua gần 70 năm xây dựng và phát triển, với những thay đổi khi thì về tổ chức, khi thì về thẩm quyền, nhưng trong hệ thống các cơ quan nhà nước, Tòa án luôn được khẳng định là cơ quan xét xử của Nhà nước, nhân danh Nhà nước tiến hành các hoạt động xét xử, nhằm mục tiêu bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Xét xử có vai trò rất quan trọng trong việc giữ vững ổn định và phát triển của xã hội. Sự ổn định của trật tự pháp luật trong nước, việc giữ vững kỷ cương xã hội, sự tự do và an toàn của con người…một phần quan trọng phụ thuộc vào hoạt động xét xử của Tòa án. Bởi vì xét xử bao giờ cũng gắn với việc Tòa án nhân danh Nhà nước ra bản án hoặc quyết định có tính chất kết luận về các vi phạm pháp luật, các tranh chấp pháp lý xảy ra trong xã hội; xử lý các vi phạm pháp luật bằng chế tài nhà nước, giải quyết các tranh chấp bằng quyền lực nhà nước. Vì vậy, mặc dù các bản Hiến pháp năm 1946 và năm 1959 không ghi cụ thể, nhưng đều thể hiện hoạt động xét xử của Tòa án là để bảo vệ những quyền công dân đã được Hiến định thông qua các quy định về xét xử của Tòa án. Nhiệm vụ của Tòa án đã được quy định thành điều luật riêng trong Hiến pháp năm 2013: “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” (khoản 3 Điều 102).
5. Nguyên tắc suy đoán vô tội
Với tư cách là cơ quan xét xử, không thể thay thế bởi bất kỳ cơ quan tiến hành tố tụng hoặc cơ quan nhà nước nào, Tòa án có quyền phán quyết những vấn đề về quyền con người như: Tuyên bố một người đã chết; xác định cha, mẹ cho con; tuyên bố tước, hạn chế tự do; áp dụng các hình phạt liên quan đến quyền con người…Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Theo nguyên tắc này, một người bị kết tội phải có 02 điều kiện: Một là, phải được chứng minh tuân theo một trình tự luật định; hai là, có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Một người bị buộc tội tuy vẫn phải chịu một số biện pháp cưỡng chế nhất định, có thể là bị hạn chế tự do, nhưng những biện pháp này không được coi là hình phạt, không ai được xem là họ có tội và họ không phải chịu bất kỳ một hình phạt nào khi chưa có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Như vậy, chỉ Tòa án với tư cách là cơ quan xét xử mới có quyền phán quyết một người là có tội và cũng chỉ có Tòa án mới được quyền áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Đây là nguyên tắc cơ bản nhằm đảm bảo các quyền tự do dân chủ của công dân đã được quy định trong Hiến pháp; đồng thời khẳng định vị trí, tầm quan trọng của hoạt động xét xử trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)