1. Khái quát về đất nước Nhật Bản

- Tên nước: Nhật Bản.

- Thủ đô: Tokyo.

Thủ đô của Nhật Bản hiện tại tạm thời được cho là Tokyo, với cung điện của Thiên Hoàng và văn phòng chính phủ Nhật Bản và nhiều tổ chức chính phủ. Cùng với đó thì tên hành chính của Tokyo được gọi là Tokyo-to (東京都 - Đông Kinh đô), trong khi hầu hết các tỉnh của Nhật Bản trừ phủ Kyoto, phủ OsakaHokkaido thì được gọi là "ken" (県 - huyện). Tuy vậy Luật pháp Nhật Bản chưa bao giờ chính thức thừa nhận Tokyo là thủ đô vì một số lý do nhất định. Theo thông lệ, nơi Thiên Hoàng ở chính là thủ đô.

Trong quá trình lịch sử, thủ đô quốc gia của Nhật đã được đặt ở nhiều vị trí khác ngoài Tokyo.

Theo truyền thống, nơi ở của Thiên hoàng được coi là thủ đô của đất nước. Từ năm 794 tới năm 1868, nơi ở của Thiên hoàng được đặt tại Kyoto. Sau năm 1868, trụ sở của Chính phủ Nhật Bản và nơi ở của Thiên hoàng được đặt tại Tokyo.

Năm 1941, Bộ Giáo dục đã công bố "quy định về việc Tokyo là thủ đô".

Năm 1950, chính phủ Nhật Bản đã từng đưa ra quyết định đặt thủ đô tại Tokyo. Nhưng đến ngày 6 tháng 9 năm 1956, Nhật Bản bãi bỏ việc Tokyo là thủ đô nước này, vì vậy cho đến nay Nhật Bản vẫn không có thủ đô.

- Quốc khánh: Ngày 23 tháng 12, là ngày sinh của Nhật Hoàng Akihito.

- Quốc kỳ: Quốc kỳ Nhật Bản là hình chữ nhật màu trắng ở giữa có hình tròn đỏ tượng trưng cho mặt trời không có tia nắng.

- Diện tích: 377,835 km2.

- Dân số: Nhật Bản có số dân là 126.096.004 người vào ngày 23/05/2021 theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc. Dân số Nhật Bản hiện chiếm 1,60% dân số thế giới. Nhật Bản đang đứng thứ 11 trên thế giới trong bảng xếp hạng dân số các nước và vùng lãnh thổ. Mật độ dân số của Nhật Bản là 346 người/km2. Với tổng diện tích đất là 364.571 km2. 91,78% dân số sống ở thành thị (116.082.623 người vào năm 2019). Độ tuổi trung bình ở Nhật Bản là 48,8 tuổi.

Trong năm 2021, dân số của Nhật Bản dự kiến sẽ giảm -425.662 người và đạt 125.815.903 người vào đầu năm 2022. Gia tăng dân số tự nhiên được dự báo là âm vì số lượng sinh sẽ ít hơn số người chết đến -488.152 người. Nếu tình trạng di cư vẫn ở mức độ như năm trước, dân số sẽ tăng 62.490 người. Điều đó có nghĩa là số người chuyển đến Nhật Bản để định cư sẽ chiếm ưu thế so với số người rời khỏi đất nước này để định cư ở một nước khác.

Theo ước tính của chúng tôi, tỷ lệ thay đổi dân số hàng ngày của Nhật Bản vào năm 2021 sẽ như sau: 2.489 trẻ em được sinh ra trung bình mỗi ngày 3.826 người chết trung bình mỗi ngày 171 người di cư trung bình mỗi ngày Dân số Nhật Bản sẽ giảm trung bình -1.166 người mỗi ngày trong năm 2021.

- Kiểu nhà nước: Nhật Bản theo chế độ quân chủ lập hiến, chế độ lưỡng viện (từ năm 1947).

+ Quân chủ lập hiến hay quân chủ đại nghị là một hình thức tổ chức nhà nước giữ nguyên vai trò của vua hay quốc vương từ thời phong kiến nhưng vị quân vương không nắm thực quyền, mà quyền lực chủ yếu thuộc quốc hội do đảng phái chiếm đa số ghế lãnh đạo; đảng này cũng có quyền tự chấp chính, hoặc liên minh với đảng khác để thành lập Chính phủ. Thủ tướng thường là thuộc đảng chiếm đa số. Trong các nhà nước theo chính thể quân chủ hạn chế thì quyền lực tối cao của quốc gia phần thuộc vị quân vương, được coi là quốc trưởng, phần thuộc một cơ quan khác, khi là nghị viện hay hội đồng đại biểu. Cuộc bầu cử có thể là đầu phiếu phổ thông hay hạn chế cho một vài giai cấp quý tộc.

Trong chính thể quân chủ lập hiến, nhà vua hay nữ hoàng là nguyên thủ quốc gia, nhưng về quyền lực thì chỉ mang tính chất tượng trưng, đại diện cho truyền thống dòng tộc và sự thống nhất của quốc gia. Tiếng Anh có câu là "nhà vua trị vì nhưng không cai trị". Chế độ quân chủ lập hiến là sự thích ứng của các vương triều đối với làn sóng dân chủ lan rộng trên thế giới sau Cách mạng Pháp. Các vương triều chấp nhận từ bỏ các quyền lực chính trị và tuân thủ hiến pháp để bảo toàn sự tồn tại; giữ lại các tước hiệu, tài sản, lợi ích kinh tế và danh dự hoàng gia.

+ Tham Nghị viện là Thượng viện của Quốc hội Nhật Bản, còn Chúng Nghị viện là Hạ viện. Tham Nghị viện trước chiến tranh là Quý Tộc viện.

Tham Nghị viện có 242 thành viên với nhiệm kỳ 6 năm. Nghị viên phải có độ tuổi trên 30 so với 25 tuổi ở Hạ viện. Tham Nghị viện không bao giờ bị giải thể chỉ có một nửa số nghị viên được bầu tại mỗi cuộc bầu cử.

- Phân chia hành chính: Nhật Bản phân chia thành 47 tỉnh, tỉnh được chia làm các hạt.

2. Đảng chính trị

Nhật Bản là quốc gia có chính quyền đa đảng phái. Những đảng phái chính trị lớn gồm có:

- Đảng tự do dân chủ Nhật Bản;

- Đảng dân chủ Nhật Bản;

- Đảng Komei;

- Đảng xã hội dân chủ Nhật Bản;

- Đảng Cộng sản Nhật Bản.

3. Độ tuổi được tham gia bầu cử

Công dân Nhật Bản từ 20 tuổi trở lên có quyền bầu cử, từ 25 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Hạ viện và từ 30 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Thượng viện.

4. Hệ thống pháp luật

Hệ thống pháp luật Nhật Bản phỏng theo hệ thống luật dân sự của Châu Âu và chịu sự ảnh hưởng của Anh-Mỹ.

Trong hệ thống dân luật, luật pháp Nhật Bản thuộc nhóm hệ thống dân luật Đức cùng với Đức, Áo, Thụy Sĩ, Hi Lạp, Bồ Đào Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc và Đài Loan.

5. Bộ máy nhà nước

- Ngành lập pháp

Quốc hội - Cơ quan lập pháp Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và cơ quan lập pháp duy nhất ở Nhật Bản. Quốc hội gồm hai viện. Thượng nghị viện gồm 247 thành viên được bầu bằng tuyển cử phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 6 năm. Ba năm một lần, một nửa số thành viên của Thượng nghị viện được miễn nhiệm và bầu thay thế. Hạ nghị viện gồm 480 thành viên cũng được bầu bằng tuyển cử phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 4 năm.

Hạ nghị viện có một số chức năng riêng biệt so với Thượng nghị viện. Nếu một dự án luật đã được Hạ nghị viện thông qua nhưng không được Thượng nghị viện nhất trí thì Hạ nghị viện có thể phủ quyết. Hơn thế nữa, đối với các điều ước quốc tế, ngân sách và việc tuyển chọn Thủ tướng, Thượng nghị viện chỉ có thể trì hoãn việc thông qua mà không thể phủ định quyết định của Hạ viện. Vì vậy, có thể nói Hạ nghị viện Nhật Bản có nhiều quyền lực hơn so với Thượng nghị viện.

- Ngành hành pháp

Quyền hành pháp thuộc về Nội các bao gồm Thủ tướng và các Bộ trưởng chịu trách nhiệm tập thể trước Quốc hội. Thủ tướng phải là thành viên của Quốc hội, do Quốc hội bầu và Nhật Hoàng phê chuẩn. Thủ tướng có quyền bổ nhiệm và cách chức các bộ trưởng. Hiến pháp Nhật Bản quy định phần lớn các bộ trưởng phải là thành viên của Quốc hội. Hiện nay, sau khi tinh giản, cơ cấu của Nội các Nhật Bản bao gồm 1 văn phòng Thủ tướng, 10 bộ và 2 cơ quan ngang bộ.

- Ngành tư pháp

Cơ quan tư pháp gồm Tối cao Pháp viện, 8 tòa án cao cấp và các tòa án địa phương, tòa án gia đình. Tối cao Pháp viện gồm Chánh án được Nhật Hoàng bổ nhiệm và 14 vị Thẩm phán do Nội các chọn. Tất cả các vụ án đều được xét xử công khai, nhất là các vụ vi phạm chính trị, báo chí và nhân quyền. Nhật Bản không có hệ thống Tòa án Hành chính và hệ thống xét xử theo bồi thẩm đoàn cũng chỉ mới được sử dụng một cách dè dặt trong thời gian gần đây.

6. Nhật Bản là đất nước có nhiều thiên tai

Nhật Bản nằm trên đường ranh giới giữa bốn mảng kiến tạo địa chất của Trái Đất. Nhưng quan trọng là mảng chuyển động này diễn ra không mấy êm ả và có thể dẫn tới những xung động đột ngột mà kết quả là động đất. Khi mảng Thái Bình Dương chìm xuống, các lớp trầm tích bề mặt vỡ ra và bị biến dạng. Thậm chí lớp vỏ đại dương cũng sẽ bị tan chảy thành dung nham dâng lên bề mặt, phun trào vô số các ngọn núi lửa. Sự phun trào núi lửa cùng với quá trình trầm tích tạo thành một chuỗi các hòn đảo nhiều núi – một dải đảo hình cung.

Ngọn núi lửa nổi tiếng nhất ở Nhật Bản là núi Núi Phú Sĩ, mà người Nhật gọi là Fuji-san, cao 3776 m. Sự dốc đứng và dạng hình nón gần như hoàn hảo của ngọn núi biến nó thành một cảnh tượng kỳ thú có thể nhìn thấy từ Tokyo. Núi Phú Sĩ là một điểm du lịch được ưa thích và hàng năm có nhiều người leo lên ngọn núi này. Ngọn núi lửa này phun trào lần cuối vào năm 1707 và ngủ yên từ đó đến nay. Tuy nhiên, tháng 8 năm 2000, các nhà khoa học đã phát hiện có những chấn động nhẹ bên dưới núi Phú Sĩ. Các chấn động này đang được nghiên cứu kỹ lưỡng, nhưng cũng đủ để đưa ra lời cảnh báo.

Tất cả những ngọn núi lửa đang hoạt động ở Nhật Bản đều được giám sát nghiêm ngặt để có thể đưa ra lời cảnh báo sơ tán kịp thời như núi Aso, đảo Kyushu. Tại đây đã xảy ra nhiều đợt phun trào và một trong những đỉnh núi lửa chính, đỉnh Nakadake, vẫn tiếp tục phun khí sulfua và đôi lúc có những vụ nổ miệng núi lửa. Những màn khí lưu huỳnh bốc lên từ đá dung nham cổ đầy màu sắc và nước hồ trên miệng núi lửa ánh lên kỳ quái một màu xanh luôn sôi sục ở nhiệt độ 900°C.

Vị trí địa lý của Nhật Bản khiến nước này là một trong những quốc gia xảy ra nhiều thiên tai nhất thế giới. Hai mối đe dọa nghiêm trọng nhất là động đất và sóng thần. Mỗi năm Nhật Bản phải chịu 7500 trận động đất nhẹ, riêng Tokyo có đến 150 trận. Hầu hết các trận động đất này quá nhẹ, không thể nhận ra, nhưng cũng có những trận động đất rất mạnh. Từ trận động đất Kanto chết chóc năm 1923, đến nay Nhật Bản đã phải trải qua 16 vụ động đất và sóng thần. Vụ sóng thần khủng khiếp gần đây nhất xảy ra ngày 11 tháng 3 năm 2011 là hậu quả của trận động đất ngầm ngoài khơi Tohoku của Nhật Bản mạnh 9 độ richte, sóng thần cao nhất là 39m, đánh vào ven bờ Sendai làm cho cả thành phố và các khu vực xung quanh bị thiệt hại nặng nề, làm gần 16.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương và hơn 2.600 người mất tích

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)