1. Vấn đề góp vốn của chủ sở hữu công ty

Theo Luật doanh nghiệp năm 2020 thì vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp là tổng giá trị tài sản do chù sở hữu cam kết góp và ghi trong Điều lệ. Đồng thời, Luật doanh nghiệp năm 2020 yêu cầu chủ sở hữu phải góp đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Khi thành lập công ty, pháp luật Việt Nam không buộc chủ sở hữu công ty phải thực hiện góp vốn ngay tại thời điểm đăng ký với cơ quan nhà nước mà được cam kết góp trong khoảng thời gian nhất định. Theo Luật doanh nghiệp năm 2020 thì khoảng thời hạn này là 90 ngày kể từ ngày mà doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Mặc dù quy định này nhằm tạo điều kiện về thời gian để các nhà đầu tư thu xếp nguồn vốn của mình để chuyển cho công ty, nhưng đây là một điểm dễ bị lợi dụng để kéo dài thời gian góp vốn, làm cho vốn điều lệ của công ty trở thành con số chỉ hiện hữu trên giấy tờ mà thực chất là công ty không có đủ số vốn như đã cam kết Vì vậy, hiện nay, Luật doanh nghiệp năm 2020 đã ấn định thời hạn góp vốn, điều này không những hạn chế tình trạng vốn ảo mà còn giúp cho các công ty nhanh chóng có tài sản để tham gia vào các hoạt động kinh doanh.
Hệ quả khi chủ sở hữu không góp vốn đúng hạn là: (i) Không góp đủ vốn điều lệ trong thời hạn, chủ sở hữu phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ; (ii) Chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước khi công ty đăng ký thay đồi vốn điều lệ; (iii) Ghủ sở hữu chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty, thiệt hại xảy ra do không góp, không góp đủ, không góp đúng hạn vốn điều lệ.
Theo tinh thần của Luật doanh nghiệp năm 2020 về vốn điều lệ của công ty được xác định ở hai thời điểm, khi đăng ký doanh nghiệp và sau thời điểm kết thúc thời hạn tối đa cam kết góp vốn. Hết thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, vốn điều lệ của công ty được xác định dựa vào số vốn thực góp. Việc chủ sở hữu công ty không góp đủ vốn điều lệ trong thời hạn, chủ sở hữu phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ. Theo Luật doanh nghiệp năm 2020, trường hợp không góp đủ vốn điều lệ trong thời hạn luật định, chủ sở hữu công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị số vốn thực góp trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày cuối cùng phải góp đủ vốn điều lệ. Chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước khi công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ.

Một số vấn đề về tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mới nhất?

>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162

2. Tăng vốn điều lệ

Theo Luật doanh nghiệp năm 2020, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có thể tăng vốn điều lệ bằng cách:

2.1 Chủ sở hữu đầu tư thêm vốn vào vốn điều lệ công ty:

Tăng vốn điều lệ đồng nghĩa với việc tăng khả năng trả nợ của công ty, góp phần giảm thiểu rủi ro cho các khách hàng, đối tác của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, vì vậy việc tăng vốn điều lệ được khuyến khích.
Tăng vốn điều lệ bằng cách chủ sở hữu tự góp vốn thêm vào vốn điều lệ được xem là hình thức tăng vốn đơn giản và an toàn nhất cho chủ sở hữu. Chủ sở hữu công ty sẽ tự mình cân nhắc dựa trên nhu cầu kinh doanh của công ty và khả năng tài chính của mình để đưa ra quyết định tăng thêm vốn điều lệ. Với cách thức tăng vốn điều lệ này, ưu điểm là chủ sở hữu công ty vẫn tiếp tục duy trì vai trò, vị trí là chủ sở hữu duy nhất của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, không phải san sẻ quyền lực hay lợi nhuận với chủ thể khác. Tuy nhiên, cách tăng vốn điều lệ này nhiều trường hợp sẽ không thể huy động được nguồn vốn cần thiết.

1.2 Chủ sở hữu huy động thêm von góp của người khác:

Luật doanh nghiệp năm 2020 còn cho phép công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên tăng vốn bằng cách huy động tổ chức, cá nhân khác góp vốn vào công ty. Những chủ thể góp vốn vào công ty như vậy phải không rơi vào các trường hợp bị cấm theo quy định của pháp luật. Sau khi thực hiện xong việc góp vốn, mỗi chủ thể sẽ sở hữu một phần phần vốn góp, kéo theo đó là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không còn thuộc sở hữu của một chủ nữa mà đã thuộc sở hữu của nhiều chủ, nó không còn mang bàn chất công ty một chủ. Khi chủ sở hữu lựa chọn hình thức huy động vốn bằng cách này cho công ty thì bắt buộc phải làm thủ tục chuyển đổi loại hình thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020.
vỉệc huy động thêm vốn bằng cách kêu gọi chủ thể khác cùng tham gia góp vốn vào công ty thì công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên dễ dàng có được một nguồn vốn điều lệ lớn phục vụ cho việc kinh doanh. Tuy nhiên, trường hợp tăng vốn điều lệ bằng việc huy động thêm phần vốn góp của người khác, công ty phải tổ chức quản lý theo một trong hai loại hình sau đây: công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên hở lên và công ty phải thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc thay đổi vốn điều lệ; công ty cổ phần theo quy định tại Luật doanh nghiệp năm 2020.

3. Giảm vốn điều lệ

Vốn điều lệ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định khả năng trả nợ của công ty, việc giảm vốn điều lệ sẽ ảnh hưởng lớn đến năng lực tài chính của công ty và tạo thêm rủi ro cho các chủ nợ của công ty. Đồng thời, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chỉ có một thành viên duy nhất, một chủ sở hữu, nên chủ sở hữu có thể giảm vốn điều lệ một cách dễ dàng nhằm trốn tránh các nghĩa vụ về tài sản, dẫn tới quyền lợi của các chủ nợ không được bảo đảm. Vậy nên, trước đây, theo Luật doanh nghiệp cũ thì công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được giảm vốn điều lệ.
Thứ nhất, hoàn trả một phần vốn góp trong vốn điều lệ của công ty nếu đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn 02 năm, kể từ ngày đăng ký doanh nghiệp và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho chủ sở hữu.
Cách giảm vốn điều lệ như thế này đã góp phần bảo vệ được lợi ích của bên thứ ba và bảo đảm được quyền lợi của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Vi phạm điều kiện hoàn trả vốn thì chủ sở hữu phải đối mặt với chế tài được nêu tại Luật doanh nghiệp năm 2020.
Thứ hai, vốn điều lệ không được chủ sở hữu thanh toán đầy đủ và đúng hạn theo quy định tại Luật doanh nghiệp năm 2020.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được giảm vôn điều lệ trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cuối cùng phải góp đủ vốn điều lệ, tuy nhiên, chủ sở hữu công ty vẫn phải chịu trách nhiệm với các nghĩa vụ tài chính tương ứng với phần vốn mà chủ sở hữu đã cam kết góp ngay từ đầu cho khoảng thời gian trước khi công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ công ty.
Ngoài việc buộc chủ sở hữu công ty phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trên số vốn đã cam kết cho các giao dịch phát sinh trước khi đăng ký thay đổi vốn góp thì công ty còn có thể bị phạt cho hành vi không đăng ký thay đổi vốn điều lệ với cơ quan có thẩm quyền khi không góp đủ số vốn như đã đăng ký.

4. Một số vấn đề khác

4.1 Trường hợp chủ sở hữu chuyển nhượng hoặc tặng cho một phần vốn điều lệ:

Trường hợp chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chuyển nhượng hoặc tặng cho một phần vốn điều lệ, thì lúc này vốn điều lệ của công ty không còn thuộc sở hữu của một chủ. Vậy nên; Luật doanh nghiệp năm 2020 đặt ra trách nhiệm của công ty trong việc tổ chức hoạt động sang các loại hình doanh nghiệp nhiều chủ, để phù hợp với bản chất cùa công ty lúc này.
Theo quy định tại Luật doanh nghiệp năm 2020 thì công ty phải tổ chức hoạt động theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trờ lên hoặc công ty cổ phần. Công ty thực hiện đãng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp với Cơ quan đăng ký kinh doanh ữong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc chuyển nhượng, tặng cho.
Cũng cần lưu ý rằng nếu chủ sở hữu tặng cho hoặc chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ cho một chủ thể khác thì lúc này công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không cần phải chuyển sang hoạt động dưới hình thức công ty nhiều chủ, nhưng vẫn phải làm thủ tục đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Luật doanh nghiệp năm 2020.

4.2 Trường hợp chủ sở hữu là cá nhân chết:

Neu chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một cá nhân, mà cá nhân này chết thì làm phát sinh quan hệ pháp luật về thừa kế đối với phần vốn của người này trong công ty. Lúc này, người thừa kế hợp pháp của chủ sở hữu công ty (theo di chúc hoặc theo pháp luật) sẽ trở thành chủ sở hữu duy nhất của công ty (nếu chỉ có một người thừa kế) hoặc đồng sờ hữu (nếu có hơn một người thừa kế). Trường họp có nhiều người thừa kế, nghĩa là lúc này công ty đang có nhiều chủ sở hữu nên công ty phải tổ chức hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tương ứng và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày kết thúc việc giải quyết thừa kế.
Lưu ý: Trường hợp không có người thừa kế/người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì phần vốn góp của chủ sở hữu được giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự.

4.3 Trường hợp chủ sở hữu công ty là tổ chức bị giải thể hoặc phá sản:

Chủ sở hữu công ty là tổ chức bị giải thể/phá sản thì người nhận chuyển nhượng phần vốn góp của chủ sở hữu sẽ trở thành chủ sở hữu hoặc thành viên công ty. Công ty phải tố chức hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tương ứng và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc chuyển nhượng.

4.4 Kiểm soát các giao dịch có nguy cơ tư lợi trong công ty:

"Tình huống:
Công ty trách nhiệm hữu hạn Thiên Phúc là chủ sở hữu Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thiên Quý. Công ty trách nhiệm hữu hạn Thiên Phúc bổ nhiệm c làm Giám đốc và là người đại diện theo pháp luật của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thiên Quý. Giám đốc c có vợ là D (D là chủ sở hữu nhà xưởng X).
Trên danh nghĩa đại diện cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thiên Quý, Giám đốc c ký hợp đồng thuê nhà xưởng X, tiền thuê: 10 triệu/tháng. c có thể tư lợi bằng cách thông đồng với vợ của mình để nâng giá thuê nhà xưởng (trong khi giá thị trường thấp hơn).
Gọi là giao dịch có nguy cơ tư lợi bởi không phải mọi giao dịch như vậy đều dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho lợi ích của công ty, thậm chí nhiều trường hợp chính các giao dịch này giúp công ty tiết kiệm được nhiều nguồn lực. Trong tình huống trên, vì D là vợ của c nên c dễ dàng đàm phán để thuê nhà xưởng X với giá thấp hơn giá thị trường, tiết kiệm cho công ty. Vậy nên, những giao dịch loại này pháp luật đặt ra cơ chế để kiểm soát chứ không cấm đoán.
Những vấn đề pháp lý đặt ra khi kiểm soát các giao dịch có nguy cơ tư lợi, cụ thể:
- Giao dịch nào là giao dịch có nguy cơ tư lợi?"
Trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác, hợp đồng, giao dịch giữa công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu với các đối tượng sau đây là giao dịch có nguy cơ tư lợi:
(i) Chủ sở hữu công ty và người có liên quan của chủ sở hữu công ty.
(ii) Thành viên Hội đồng thành viên, Giám đốc/Tổng Giám đốc và Kiểm soát viên.
(iii) Người có liên quan của thành viên Hội đồng thành viên, Giám đốc/Tổng Giám đốc và Kiểm soát viên.
(iv) Người quản lý của chủ sở hữu công ty, người có thẩm quyền bổ nhiệm những người quản lý đó và người có liên quan của những người này.
- Điều kiện thông qua các giao dịch có yếu tố tư lợi là gì?
Người ký kết hợp đồng phải thông báo cho Hội đồng thành viên/Chủ tịch công ty, Giám đốc/Tổng Giám đốc và Kiểm soát viên về các đối tượng có liên quan đối với hợp đồng, giao dịch đó; đồng thời kèm theo dự thảo hợp đồng hoặc nội dung chủ yếu của giao dịch đó. Trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác, Hội đồng thành viên/Chủ tịch công ty và Kiểm soát viên phải quyết định việc chấp thuận hợp đồng hoặc giao dịch trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo theo nguyền tắc đa số, mỗi người có một phiếu biểu quyết; người có lợi ích liên quan không có quyền biểu quyết. Hợp đồng, giao dịch có yếu tố tư lợi chỉ được chấp thuận khi có đủ các điều kiện tại Luật doanh nghiệp năm 2020.
- Hậu quả pháp lý khi giao dịch có nguy cơ tư lợi không được thông qua theo đúng quy định là gì?
Hợp đồng, giao dịch bị vô hiệu và xử lý theo quy định của pháp luật nếu được ký kết không đúng quy định, gây thiệt hại cho công ty. Người ký hợp đồng và người có liên quan là các bên của hợp đồng liên đới chịu trách nhiệm về thiệt hại phát sinh và hoàn trả cho công ty các khoản lợi thu được từ việc thực hiện hợp đồng, giao dịch đó.
Lưu ý: Hợp đồng, giao dịch giữa công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu với chủ sở hữu công ty hoặc người có liên quan của chủ sở hữu công ty phải được ghi chép lại và lưu giữ thành hồ sơ riêng của công ty.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê