1. Mở đầu
Các chủ đề liên quan đến quyền con người ngày càng được thảo luận nhiều tại các diễn đàn quốc gia và quốc tế. Có nhiều cách hiểu, cách tiếp cận dẫn tới những định nghĩa khác nhau về quyền con người. Khuynh hướng tiếp cận thứ nhất nhấn mạnh thuộc tính tự nhiên của các quyền con người (đã là con người thì có các quyền, sinh ra là con người đã có các quyền và tự do). Khuynh hướng thứ hai nhấn mạnh thuộc tính kiến tạo của quyền con người, cho rằng các quyền là do con người thỏa thuận với nhau hoặc do nhà nước quy định trong pháp luật.
Theo Văn phòng Cao ủy Nhân quyền (OHCHR) Liên Hợp Quốc thì: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý mang tính phổ quát (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm và tự do cơ bản của con người”.
Kinh tế, quyền con người và phát triển bền vững có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong thời đại ngày nay, không chỉ những nước phát triển mà cả những nước đang phát triển ở các mức độ khác nhau đều coi trọng phát triển bền vững và đặt ra vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, trong đó có trách nhiệm đối với quyển con người (Corporate Accountability on Human Rights). Đạo đức kinh doanh, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility - CSR) và cao hơn nữa là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với quyền con người đã và đang trở thành chủ để được tranh luận sôi nổi ở nhiều quốc gia. Tuy nhiên, ở nước ta trên phương diện khoa học và quản lý trách nhiệm của doanh nghiệp đối với quyền con người chưa dành được sự quan tâm thích đáng. Nói chính xác hơn, về mặt khoa học trách nhiệm của doanh nghiệp đối với quyền con người mới chỉ được nghiên cứu, đề cập lồng ghép trong các nghiên cứu về trách nhiệm xã hội và trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp.
2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là gì?
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility - CSR) là một khái niệm được sử dụng từ khá sớm, gắn với thời kỳ cách mạng công nghiệp từ thế kỷ 18, đề cập tới việc bên cạnh mục đích tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp cần có trách nhiệm với xã hội. CSR là khái niệm rộng và được định nghĩa theo nhiều cách nhau tùy thuộc vào các phương thức tiếp cận, động cơ, lĩnh vực, quan điểm và phương pháp khác nhau. CSR có thể được hiểu là một hình thức tự quản doanh nghiệp hay là cách thức để doanh nghiệp đạt được sự cân bằng giữa phát triển kinh tế, xã hội, môi trường. Theo Hội đồng Kinh doanh Thế giới vì Phát triển Bền vững (World Business Council for Sustainable Development) thì CSR được hiểu là “cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho sự phát triển kinh tế đồng thời với việc cải thiện chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động, gia đình họ, cộng đồng và toàn xã hội”. Ngoài khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, một số khái niệm tương tự khác cũng thường được sử dụng như: trách nhiệm của doanh nghiệp (CR), doanh nghiệp công dân (corporate citizenship), doanh nghiệp có trách nhiệm (responsible business)...
3. Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với quyền con người
Tiếp cận dựa trên quyền là cách tiếp cận từ dưới lên, lấy cá nhân làm trung tâm. Trách nhiệm nhân quyền yêu cầu doanh nghiệp phải tôn trọng tất cả các quyền con người, trong mọi công đoạn, hoạt động của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có thể có nhiều thực hành tốt về CSR nhưng vẫn có thể có rủi ro vi phạm nhân quyền hoặc đồng lõa hoặc góp phần gây nên các vi phạm nhân quyền. Do đó, doanh nghiệp không được phép chỉ chọn một hay hai vấn đề mà mình quan tâm, muốn làm từ thiện để thực hiện trách nhiệm xã hội một cách tự nguyện và bỏ qua các nội dung khác về quyền con người.
Khuôn khổ về quyền con người sẽ dựa trên cách tiếp cận toàn diện, nhấn mạnh nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể liên quan. Trước đây, doanh nghiệp chủ yếu tiếp cận các vấn đề xã hội thông qua CSR nhưng gần đây ngày càng có nhiều doanh nghiệp đưa nội dung quyền con người vào chính sách, chiến lược hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Do vậy, có thể nói trách nhiệm nhân quyền là khái niệm toàn diện hơn CSR. CSR hướng tới việc tạo ra giá trị, còn trách nhiệm nhân quyền tạo ra khuôn khổ dựa trên các nguyên tắc có tính phổ quát toàn cầu, đặc biệt tập trung vào ngăn ngừa tình trạng vi phạm hoặc đồng lõa với vi phạm nhân quyền của doanh nghiệp
4. Doanh nghiệp cần quan tâm đến vấn đề quyền con người
Quyền con người đã trở thành giá trị chung của nhân loại, đòi hỏi mọi thiết chế, tổ chức trong xã hội, trong đó có doanh nghiệp, phải có nghĩa vụ đảm bảo. Trước đây, quyền con người và doanh nghiệp thường được coi là hai lãnh địa hoàn toàn khác biệt nhau cả về bản chất, phạm vi và cách tiếp cận. Đây là quan niệm truyền thống, cho rằng nhà nước là chủ thể chịu trách nhiệm duy nhất trong việc đảm bảo quyền của các cá nhân. Ngày nay, mặc dù quốc gia vẫn là chủ thể chính có nghĩa vụ đảm bảo quyền con người, nhưng sự tham gia của các chủ thể phi nhà nước như các doanh nghiệp, tập đoàn vào các quan hệ về quyền con người ngày càng nhiều hơn. Có thể nói, mối quan hệ giữa quyền con người và doanh nghiệp được coi là mối quan hệ hai bên cùng có lợi (win-win). Nhiều doanh nghiệp lo ngại rằng tham gia thực hiện nghĩa vụ quyền con người sẽ làm gia tăng chi phí, giảm lợi nhuận.
Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp không thực hiện tốt cam kết về nhân quyền, gây nên các vi phạm, lạm dụng quyền thì sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận, thậm chí là gia tăng rủi ro cho doanh nghiệp, nhất là trong trường hợp có liên quan đến kiện tụng hoặc đình công. Chẳng hạn tập đoàn Shell đã phải chi 15,5 triệu USD để giải quyết vụ kiện ở Nigeria liên quan đến các vi phạm quyền về môi trường ở đây. Hơn thế nữa, đưa trách nhiệm quyền con người vào hoạt động kinh doanh cũng sẽ góp phần tạo ra sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp thông qua việc nâng cao hình ảnh, cải thiện quan hệ giữa doanh nghiệp với người lao động và các bên liên quan, đặc biệt là với người tiêu dùng. Nhiều tập đoàn, doanh nghiệp trên thế giới đang đi theo hướng tiếp cận này. Theo số liệu của Trung tâm Dữ liệu về Kinh doanh và Quyền con người thì hiện nay đã có hàng trăm tập đoàn xuyên quốc gia ban hành chính sách riêng về quyền con người.
5. Một số nhận xét và kiến nghị
Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với quyền con người không phải là trách nhiệm pháp lý phát. Nội dung của nó là sự tôn trọng, chú ý, bảo vệ và phát triển quyền con người của doanh nghiệp một cách tự nguyện ngoài yêu cầu của pháp luật. Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với quyền con người đòi hỏi doanh nghiệp phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, đối xử công bằng đối với những người lao động, khuyến khích và tạo cơ hội cho họ tham gia vào các hoạt động xã hội và đoàn thể xã hội. Doanh nghiệp có trách nhiệm đối với quyền con người còn là doanh nghiệp bảo đảm quyền con người và các quy định lao động căn bản của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), chú ý quyền và lợi ích người tiêu dùng, đóng góp tích cực vào các phong trào xã hội và cộng đồng, quan tâm công tác đào tạo nhân lực.
Khuyến khích doanh nghiệp có trách nhiệm đối với quyền con người phù hợp với định hướng và chiến lược mà Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện là đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, coi phục vụ con người là mục tiêu của sự phát triển. Trong thực hiện sứ mạng bảo vệ, bảo đảm quyền con người Nhà nước cần thu hút ở mức độ cao hơn sự tham gia rộng rãi của các doanh nghiệp. Nhiệm vụ này đòi hỏi trước hết phải có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, trong đó quy định rõ các quyền và nghĩa vụ cùng với chế tài đủ sức răn đe đối với doanh nghiệp khi vi phạm quyền con người. Nhà nước có các chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào hoạt động trợ giúp xã hội như tôn vinh những doanh nghiệp có đóng góp lân cho sự nghiệp thực hiện nhiệm xã hội của doanh nghiệp, giảm thuế đối với các khoản tài chính mà doanh nghiệp sử dụng để thực hiện trách nhiệm xã hội; khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng các bộ quy tắc ứng xử với khách hàng; phát động phong trào xã hội bảo vệ người tiêu dùng và coi bảo vệ người tiêu dùng là sự nghiệp của toàn xã hội, trong đó có sự tham gia tích cực của doanh nghiệp. Ngoài ra, Nhà nước thu hút doanh nghiệp cùng tham gia vào hoạt động giáo dục quyền con người.
Đối với doanh nghiệp, yêu cầu trước hết trước khi thực hiện trách nhiệm đối với quyền con người là tuân thủ pháp luật. Trách nhiệm đối với quyền con người chỉ tồn tại ở những doanh nghiệp mà ở đó doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp có ý thức pháp luật, chấp hành pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ do pháp luật quy định. Đối với những doanh nghiệp làm ăn trái pháp luật, coi thường pháp luật thì khó có thể đòi hỏi những doanh nghiệp đó thực hiện trách nhiệm đối với quyền con người và nếu họ có thực hiện trách nhiệm đối với quyền con người thì đó chỉ là vỏ bọc che đậy cho sự vi phạm pháp luật. Trong thực hiện trách nhiệm đối với quyền con người doanh nghiệp nên chú ý đến tính bền vững của sự tác động từ hành vi thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mang lại. Chẳng hạn, ngay cả khi pháp luật cho phép hoặc theo thỏa thuận doanh nghiệp có thể đền bù tiền cho người bị Nhà nước thu hồi đất giao cho doanh nghiệp sử dụng. Nhưng với ý thức và trách nhiệm xã hội, doanh nghiệp đã đào tạo cho người bị thu hồi đất một nghề để cùng với nghề đó người bị thu hồi đất có thể kiếm được việc làm đảm bảo cuộc sống của họ. Việc làm này của doanh nghiệp sẽ mang lại hiệu quả bền vững hơn là việc đền bù bằng tiền cho người bị thu hồi đất. Như vậy, trong thực hiện trách nhiệm đối với quyền con người, doanh nghiệp nên áp dụng cách thức trang bị cho người thụ hưởng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có được “cần câu” hơn là cho họ “con cá”. Sự hỗ trợ của doanh nghiệp và cùng với đó người được thụ hưởng có điều kiện thực hiện và phát triển các quyền cơ bản của họ sẽ mang lại hiệu quả và sự bền vững hơn là cung cấp cho họ một phương tiện vật chất có giá trị sử dụng một lần.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)