1. Thực trạng hiểu biết về quyền con người của người dân Việt Nam

Khi được hỏi về quan niệm quyền con người, hầu như những người dân bình thường không am hiểu mấy về luật pháp (trường hợp phỏng vấn nhanh người lái xe ôm Trần Văn Minh ở Ngõ 46 Trung Tự) cũng có thể nhớ và dẫn lời Hồ Chủ tịch trong Tuyên ngôn độc lập năm 19451. Tuy nhiên, nếu hỏi rõ hơn về các quyền cơ bản của một con người, một công dân thì không phải ai cũng biết một cách cụ thể. Kết quả Điều tra sinh viên 2008 cũng cho thấy đa số sinh viên kể ra được các quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, đến quyền thứ tư, thứ năm thì gần một nửa số sinh viên không trả lời được.

Ngay cả Hiến pháp cũng vậy, nhìn chung rất ít người tìm đọc Hiến pháp, ngoại trừ những người buộc phải tiếp xúc vì lý do học hành hoặc một lý do nào đấy. Điều này nếu so sánh với trường hợp Nhật Bản, chúng ta sẽ thấy một sự tương đồng khá thú vị, bởi ở Nhật, người dân rất quan tâm đến luật pháp nhưng nhận thức và hiểu biết của người dân về quyền con người cũng không phải hoàn toàn đầy đủ. Nhìn chung, cả ở Việt Nam và Nhật Bản, người ta đều có thể làm một phép suy ngôn ngữ đơn giản để kết luận rằng “nhân quyền” là “quyền lợi của con người” theo đúng nghĩa nhân là người, quyền là quyền lợi, nhưng bản thân mình có quyền lợi gì với tư cách là một con người thì dường như rất ít người suy nghĩ cụ thể về điều này. Hơn nữa, vì không suy nghĩ cụ thể nên có xu hướng thay thế bằng những từ ngữ trừu tượng như “nghĩ cho người khác”, “hiền lành, tử tế” hoặc cho đó là những khái niệm chính trị xa vời không liên quan lắm đến thực tiễn cuộc sống của bản thân.

Trong lịch sử, quyền con người trở thành một khái niệm cụ thể là nhờ những con người đứng lên chống lại phân biệt, bất bình đẳng và áp bức, đòi hỏi một cuộc sống theo đúng nghĩa của con người. Nhờ đó quyền con người mới được cụ thể hoá trong pháp luật, được tôn trọng, thực hiện như là một quy tắc, luật lệ của xã hội. Việc pháp điển hoá quyền con người là nhằm mục đích làm rõ về một xã hội mà con người mong muốn và đòi hỏi nhà nước, các cơ quan hành chính thực hiện những quyển của mình, yêu cầu những cơ quan có quyền lực này không xâm phạm tùy tiện quyền của mình. Tức là về nguyên tắc, quyền con người trước hết nằm trong quan hệ giữa nhà nước và công dân, sau đó là quan hệ giữa các cá nhân (ở mức vi phạm luật mà nhà nước có nghĩa vụ can thiệp phân xử một cách công bằng và bình đẳng nhằm bảo đảm quyền con người được tôn trọng), đây là vấn đề không phải ai cũng nhận thức rõ, vì vậy việc học tập, nhận thức như vậy về quyền con người của công dân là rất quan trọng.

Trong thời gian tới, Nhà nước cần tìm kiếm và thực hiện đồng bộ các giải pháp để tiếp tục nâng cao nhận thức của người dân về quyền con người.

2. Tăng cường giáo dục về nhân quyền

Tăng cường giáo dục về nhân quyền để nâng cao nhận thức của công chúng và năng lực của các cơ quan thực thi pháp luật liên quan nhằm bảo đảm tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân trong khuôn khổ pháp luật của quốc gia; lồng ghép giáo dục quyền con người với việc thực hiện các Nghị quyết của Đảng, các chương trình, đề án của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo.
Việc hiểu biết một cách đúng đắn về quyền con người cũng như các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về quyền con người là điều kiện tiên quyết, không thể thiếu để bảo vệ, thúc đẩy quyền con người một cách hiệu quả. Để làm được điều đó, việc giáo dục quyền con người phải được tiến hàng một cách thường xuyên, liên tục để tất cả cán bộ, người dân hiểu biết và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật về quyền con người; đấu tranh, phê phán với những quan điểm, luận điệu sai trái về quyền con người của các thế lực thù địch có âm mưu chống phá.

3. Đổi mới hoạt động giảng dạy quyền con người trong hệ thống giáo dục quốc dân

Hiện nay ở Việt Nam, các kiến thức về quyền con người cũng trong các cấp học từ tiểu học đến trung học phổ thông còn mang tính lý thuyết và trừu tượng. Chương trình giáo dục quyền con người cần đảm bảo tính hiện đại, ổn định và thống nhất, có sự kế thừa giữa các cấp học. Đối với cấp độ đại học, giáo dục quyền con người đã trở thành một chủ đề được quan tâm chung trong nhiều trường đại học ở Việt Nam nhưng mức độ hướng dẫn, nội dung, phương pháp và cách thức tiếp cận chưa thực sự đồng đều. Các nội dung về quyền con người được lồng ghép vào trong các môn học, nhưng chủ yếu vẫn chỉ được coi là một chủ đề trong phạm vi luật quốc tế, dẫn đến chưa có sự gắn kết thực sự chặt chẽ giữa các môn học với nội dung giáo dục nhân quyền. Ngoài ra, môn học về quyền con người cũng mới chỉ được giảng dạy tại một số trường đại học/cao đẳng đào tạo chuyên ngành luật hoặc về mảng xã hội chứ chưa được giảng dạy tại tất cả các ngành học ở các trường đại học/cao đẳng. Vì vậy, cần thiết phải đưa chương trình giáo dục quyền con người vào tất cả các cấp bậc học và tất cả các ngành học (đối với các trường đại học/cao đẳng) để tất cả học sinh/sinh viên đều có thể tiếp cận được các nội dung cơ bản về quyền con người. Khi lồng ghép vấn đề quyền con người vào hệ đào tạo đại học/cao đẳng sẽ đảm bảo tính thống nhất, tính liên thông của chương trình; đồng thời cũng đảm bảo tính chủ động, thường xuyên, liên tục, rộng khắp trong cả nước. Tuy nhiên, cũng cần có sự cân nhắc về mức độ phù hợp cũng như phương pháp lồng ghép trong chương trình đào tạo của các trường cao đẳng/đại học, đặc biệt với các trường thuộc khối tự nhiên với các môn học cơ sở.
Bên cạnh đó, cần đổi mới phương pháp giảng dạy, xây dựng bài giảng hiện đại, hấp dẫn, đưa nhiều ví dụ minh hoạ thực tế vào bài giảng; tránh phương pháp dạy học một chiều, thiên về lý thuyết tạo tâm lý nhàm chán cho người học. Đối với cấp bậc đại học, cần thường xuyên cho sinh viên trao đổi thảo luận về quyền con người trên lớp thông qua việc cho sinh viên làm bài tập lớn theo nhóm, cho sinh viên đóng vai luật sư tư vấn, diễn thuyết vấn đề nghiên cứu... Ngoài ra, cần khuyến khích sinh viên thành lập các câu lạc bộ chuyên ngành để sinh viên có thế cùng nhau học tập, sinh hoạt chủ đề môn học theo tháng, học nhóm, cùng nhau thảo luận những vướng mặc, khó khăn trong quá trình học tập môn học; để từ đó, cùng có hướng giải quyết và phương pháp học tích cực.

4. Vận dụng nhiều hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục kiến thức về quyền con người

Đối với hoạt động tuyên truyền, giáo dục nội dung quyền con người, cần sử dụng, khai thác và vận dụng linh hoạt các hình thức, phương pháp khác nhau bảo đảm tính phù hợp, hiệu quả; đảm bảo nội dung tuyên truyền phù hợp với đối tượng và mục tiêu; Kết hợp giữa tuyên truyền, giáo dục quyền con người với các kỹ năng sống, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, hòa giải cơ sở, giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật…
Khuyến khích tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về quyền con người, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về quyền con người cũng là một hình thức hấp dẫn, có thể đạt hiệu quả cao. Ưu điểm của biện pháp này là có thể được áp dụng một cách đa dạng cho nhiều đối tượng khác nhau (không chỉ riêng với nhóm học sinh/sinh viên tham gia các cuộc thi trong khuôn khổ của cơ sở đào tạo mà kể cả các đối tượng như người đi làm, người nghỉ hưu… cũng hoàn toàn tham gia được ở phạm vi rộng); phạm vi đối tượng được giáo dục cũng rất rộng (bao gồm cả người dự thi và người theo dõi cuộc thi), phát huy được tính tích cực, chủ động của đối tượng dự thi và giúp họ nhận thức sâu sắc hơn nội dung quyền con người cần tìm hiểu.

5. Tăng cường giáo dục quyền con người cho cán bộ thực thi pháp luật, giảng viên

Tăng cường giáo dục về quyền con người thông qua việc cung cấp các chương trình đặc biệt cho các cán bộ thực thi pháp luật; chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giảng viên có kiến thức chuyên môn phục vụ công tác giáo dục về quyền con người trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Để có thể giáo dục quyền con người cho các đối tượng thụ hưởng khác nhau một cách hiệu quả, ngoài việc có giáo trình phù hợp, phương pháp giảng dạy hấp dẫn thì chất lượng của đội ngũ người giảng dạy cũng vô cùng quan trọng. Hiện nay, đội ngũ giáo viên phổ thông nhìn chung chưa được đào tạo đầy đủ, bài bản về nội dung này, khi giảng dạy về quyền con người chủ yếu họ phải dựa vào giáo trình và những tài liệu tham khảo để xây dựng bài giảng. Do đó, trước khi các nội dung quan điểm của Đảng, Nhà nước về quyền con người được chuyển tải tới học sinh, sinh viên thì lãnh đạo các nhà trường và giáo viên phải là đối tượng được trang bị kiến thức về quyền con người, cũng như chủ trương của Đảng, Nhà nước về thực hiện quyền con người một cách toàn diện, giúp họ chủ động trong việc lồng ghép nội dung giáo dục này vào bài giảng nhằm chuyển tải và thẩm thấu một cách linh hoạt vào học sinh, sinh viên.
Đối với đội ngũ tuyên truyền, công tác viên giáo dục quyền con người ngoài hệ thống nhà trường, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tọc thiểu số, cần có một đội ngũ cốt cán, không chỉ làm nhiệm vụ tuyên truyền, mà còn phải vận đồng quần chúng nhân dân tích cực tham gia hoạt động này. Ngoài ra, cần phải đặc biệt quan tâm đến xây dựng đội ngũ tuyên truyền cốt cán trong các tổ chức chính trị xã hội đặc thù như: Hội liên hiệp phụ nữ, Hội người cao tuổi, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh, Công đoàn… để thông qua hoạt động của các tổ chức này mà truyền tải nội dung giáo dục quyền con người một cách sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân.

6. Áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tuyên truyền, giáo dục quyền con người

Để hỗ trợ cho các hình thức, phương pháp giáo dục, cần tăng cường đầu tư, đẩy mạnh hơn nữa hoạt động tuyên truyền, thông tin về quyền con người, quyền công dân trên các phương tiện thông tin đại chúng. Với lợi thế là tính phổ cập, kịp thời và rộng khắp, báo chí là một kênh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục quyền con người đạt hiệu quả cao. Ngày nay, sự đa dạng các loại hình báo chí như: báo in, báo hình, báo nói, báo điện tử đã góp phần ngày càng nâng cao hiệu quả và chất lượng thông tin. Phát huy thế mạnh đặc trưng của mình, mỗi loại hình báo chí đều có thể tìm được những hình thức thích hợp để chuyển tải nội dung giáo dục quyền con người đến đối tượng một cách hiệu quả nhất. Nhà nước cần có chính sách đầu tư nguồn lực, kỹ thuật thích hợp cho các cơ quan thông tin tuyên truyền, đặc biệt là các cơ quan phát thanh, truyền hình, báo chí để các cơ quan này có điều kiện thuận lợi thực hiện hoạt động của mình. Đồng thời, các cơ quan thông tin đại chúng cần coi hoạt động tuyên truyền, giáo dục quyền con người là trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, từ đó xây dựng các chuyên mục, chương trình thường xuyên, liên tục và rộng khắp cho hoạt động này.
Bên cạnh đó, chúng ta hoàn toàn có thể tận dụng những lợi ích từ các mạng xã hội để phổ biến các thông tin về quyền con người một cách nhanh chóng và tiếp cận được rất nhiều đối tượng sử dụng. Tuy nhiên, khi tiếp nhận các thông tin từ mạng xã hội, người đọc cần phải chắt lọc các thông tin chính thống, có tư duy phản biện để nhìn nhận được chính xác vấn đề.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)