1.Khái niệm,bản chất, đặc điểm của phạm tội chưa đạt
>> Xem thêm: Nguyên nhân của tội phạm là gì ? Cách phân loại, phân tích các nguyên nhân của tội phạm
a)Khái niệm :
Là hành vi cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn.
Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt. Người có hành vi phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn với tội chuẩn bị phạm tội
b) Đặc điểm
Người phạm tội đã thực hiện hành vi được quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng. Hành vi của họ chưa thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm
+ Người phạm tội thực hiện hành vi liền trước hành vi được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm
+ Mới chỉ thực hiện được một hành vi trong những hành vi quy định trong cấu thành tội phạm
+ Thực hiện hết hành vi, hậu quả xảy ra cho xã hội rồi nhưng hậu quả đó chưa phù hợp với hậu quả được quy định trong cấu thành tội phạm.
Hậu quả của tội phạm chưa xảy ra hoặc người phạm tội đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa phù hợp với hậu quả được quy định trong cấu thành tội phạm (có thể là mới chỉ đặt quan hệ xã hội trong tình trạng bị uy hiếp, hậu quả xảy ra chưa phù hợp với hậu quả được quy định trong cấu thành tội phạm).
Nguyên nhân của việc không thực hiện đến cùng là những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội:
+ Do sự ngăn cản của người bị hại khiến tội phạm không thực hiện được
+ Do điều kiện tự nhiên cản trở
+ Do những nguyên nhân khách quan thuộc bản thân người phạm tội, sự hạn chế của họ…
2. Phân loại trách nhiệm hình sự đối với giai đoạn phạm tội chưa đạt
>> Xem thêm: Tình hình tội phạm là gì ? Đặc điểm, ý nghĩa khi nghiên cứu tình hình tội phạm
– Có ý nghĩa xã định mức độ nguy hiểm của phạm tội chưa đạt làm cơ sở cho việc áp dụng trách nhiệm hình sự.
– Căn cứ vào mức độ thực hiện hành vi
+ Phạm tội chưa đạt chưa thành: cố ý phạm tội nhưng chưa thực hiện đến cùng do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn và họ cũng chưa thực hiện được hết hành vi phạm tội của mình
+ Phạm tội chưa đạt đã thành: cố ý phạm tội nhưng không thực hiện được đến cùng do những nguyên nhân khách quan, họ đã thực hiện được hết hành vi của mình nhưng hậu quả của hành vi phạm tội chưa xảy ra.
– Căn cứ vào nguyên nhân
+ Nguyên nhân khách quan thuộc về bản thân người phạm tội
+ Nguyên nhân thuộc về các điều kiện khách quan khác.
3.Trách nhiệm hình sự đối với giai đoạn phạm tội chưa đạt
>> Xem thêm: Các chủ thể phòng ngừa tội phạm là ai ? Xã hội hóa công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
Tất cả các trường hợp đều phải chịu trách nhiệm hình sự không phân biệt loại tội nào
Tuy nhiên họ sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi của họ chưa đáp ứng đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.
+ Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi phạm tội chưa đạt, hình phạt được quyết định theo các điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm tương ứng tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và những tình tiết khác khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng.
+ Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.
– Tòa án quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi trong trường hợp chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt theo nguyên tắc quy định.
– Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội chưa đạt không quá một phần ba mức hình phạt
– Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội chưa đạt không quá một phần hai mức hình phạt quy định.
4. Hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội
>> Xem thêm: Đặc điểm của nhân thân người phạm tội là gì ? Cách phân loại người phạm tội ?
Điều 102 BLHS quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt phải thấp hơn hình phạt được áp dụng đối với tội phạm hoàn thành. Tuy nhiên, trong BLHS chưa quy định cụ thể mức hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên khi họ phạm tội ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt.
Ví dụ: Trần Quang L là người chưa thành niên chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng như “Cướp tài sản”, “Hủy hoại tài sản” thì vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đặt ra đối với họ như thế nào?ở mức độ nào?
Theo quy định hiện nay chưa có cơ sở pháp lý để giải quyết triệt để vấn đề này, có chăng chỉ là vận dụng Điều 102 BLHS khi quyết định hình phạt đối với họ. Đây là vấn đề bất hợp lý vì đối với người phạm tội nói chung, hành vi của họ ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt thì tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm hoàn thành nên hình phạt áp dụng phải nhẹ hơn hình phạt đối với tội phạm hoàn thành, người chưa thành niên phạm tội nói riêng cũng áp dụng như vậy nhưng hình phạt của họ còn thấp hơn so mức hình phạt của người thành niên, nhưng cụ thể là thấp hơn như thế nào thì lại chưa có hướng dẫn.
Các dạng thể hiện của hành vi phạm tội
– Chuẩn bị kế hoạch phạm tội như: bàn bạc, phân công trách nhiệm cho từng người, kế hoạch tiêu thụ tài sản hay kế hoạch che giấu tội phạm … Dạng chuẩn bị phạm tội này thường xảy ra đối với những tội phạm được thực hiện có đồng phạm hoặc có tổ chức. Tuy nhiên cũng có trường hợp tội phạm chỉ do một người thực hiện vẫn có sự chuẩn bị kế hoạch phạm tội. Ví dụ: A có ý định đầu độc B, tự A đã vạch ra một kế hoạch như mua thuốc độc ở đâu, bỏ thuốc độc vào nước cho B uống như thế nào, sau khi B trúng độc thì làm thế nào để che giấu được tội phạm …
– Thăm dò hoặc tìm địa điểm phạm tội:dạng chuẩn bị này chủ yếu đối với các tội xâm phạm sở hữu hoặc xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân. Ví dụ: A muốn trộm cắp nhà B, nên A đã nhiều lần đến nhà B thăm dò xem gia đình B thường vắng mặt nhà vào giờ nào, quy luật sinh hoạt của gia đình ra sao để tiến hành trộm cắp.
– Chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội: chuẩn bị xe máy để đi cướp giật, chuẩn bị dao để giết người, chuẩn bị thuốc nổ để hủy hoại tài sản, chuẩn bị xăng để đốt nhà, chuẩn bị thuốc mê đê làm cho người có tài sản uống nhằm chiếm đoạt tài sản của họ, chuẩn bị giấy tờ giả mạo để lừa đảo …
– Loại trừ trước những trở ngại khách quan để thực hiện tội phạm được thuận lợi, dễ dàng như: ngắt cầu dao điện để đêm đột nhập vào kho trộm tài sản, cho các con đi nghỉ mát để ở nhà giết vợ được dễ dàng …
Như vậy chuẩn bị phạm tội là hành vi tạo ra tiền đề (điều kiện) cần thiết cho việc thực hiện tội phạm. Hành vi chuẩn bị phạm tội có ảnh hưởng lớn đến kết quả của việc thực hiện tội phạm, chuẩn bị càng chu đáo, công phu bao nhiêu thì việc thực hiện tội phạm càng đạt kết quả bấy nhiêu. Tuy nhiên, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội được đánh giá và phân biệt thành hai loại: Loại hành vi chuẩn bị phạm tội phải truy cứu trách nhiệm hình sự và loại không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mặc dù cả hai loại đều chưa gây ra hậu quả, nhưng tính chất nguy hiểm của hành vi chuẩn bị phạm tội có khác nhau và sự khác nhau đó lại không phụ thuộc vào tính chất và mức độ của hành vi chuẩn bị phạm tội mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất nghiêm trọng của tội phạm mà người đó định thực hiện.
Luật hình sự nước ta chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội mà tộ đó là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Nếu theo quy định này thì người chuẩn bị phạm tội do vô ý vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên theo lý luận thì chỉ có tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý (cố ý trực tiếp) thì mới có giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Do đó sẽ không có hành vi chuẩn bị phạm tội mà tội phạm đó sẽ được thực hiện do vô ý.
Theo quy định của bộ luật hình sự thì những người chuẩn bị phạm tội luôn luôn là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng, vấn đề trách nhiệm hình sự của người có hành vi chuẩn bị phạm tội không có gì khó khăn; nhưng đối với các tội vừa là tội nghiêm trọng vừa là tội ít nghiêm trọng thì việc loại trừ trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội trong một số trường hợp khó xác định.
5.Phân biệt phạm tội chưa đạt và chuẩn bị phạm tội
>> Xem thêm: Phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm như thế nào ?
Khái niệm:
Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
Chuẩn bị phạm tội được hiểu là trường hợp một người tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện phạm tội hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác cho việc thực hiện tội phạm.Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu của hành động phạm tội, là bước tiếp theo để cụ thể hóa ý định phạm tội.
Chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt – cả hai đều là những dạng của trường hợp tội phạm chưa hoàn thành. Hai giai đoạn này là các trường hợp phạm tội đều bị dừng lại là do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của chủ thể thực hiện hành vi, đồng thời nguyên nhân ngoài ý muốn chính là căn cứ pháp lý chung cho cả hai trường hợp .
Về hậu quả pháp lý:
Người thực hiện hành vi trong trường hợp chuẩn bị phạm tội lại không phải chịu trách nhiệm hình sự (trừ hai trường hợp đặc biệt – khi một người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng)
Với trường hợp phạm tội chưa đạt thì tất cả các trường hợp, người thực hiện hành vi đó đều phải chịu trách nhiệm hình sự trên những cơ sở chung tương ứng và điều này cũng được cụ thể hóa trong Bộ luật hình sự .
Về hành vi:
Ở trường hợp thứ nhất (chuẩn bị phạm tội), người phạm tội chưa bắt tay vào việc thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm tương ứng thuộc Phần các tội phạm Bộ luật hình sự (có nghĩa là hành vi chưa xâm phạm đến các quan hệ xã hội được luật hình sự xác lập và bảo vệ), mà chỉ mới thực hiện những hành vi tạo ra các điều kiện thuận lợi, cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhanh chóng về sau.
Trong khi đó, ở trường hợp thứ hai (phạm tội chưa đạt), chủ thể đã thực sự bắt tay vào việc thực hiện tội phạm, các quan hệ xã hội được luật hình sự xác lập và bảo vệ đã bắt đầu bị xâm hại, hậu quả đã gây ra cho xã hội, nên mức độ nguy hiểm cho xã hội của trường hợp này rõ ràng cao hơn so với trường hợp thứ nhất, đồng thời sẽ đặc biệt nguy hiểm hơn nếu không có căn cứ “do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn” ngăn chặn lại việc tiếp tục để hành vi phạm tội đó tiếp diễn.
Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về tạm giam, tạm giữ khi điều tra hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê