- 1. Mức phạt người tổ chức bơi lội trong vùng nước cảng khi chưa được chấp thuận
- 2. Quyền xử phạt người tổ chức bơi lội trong vùng nước cảng khi chưa được chấp thuận của Cảng vụ hàng hải thuộc về thanh tra viên chuyên ngành hàng hải đúng không?
- 3. Khi chưa được chấp thuận của Cảng vụ hàng hải thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với người tổ chức bơi lội trong vùng nước cảng là bao lâu?
1. Mức phạt người tổ chức bơi lội trong vùng nước cảng khi chưa được chấp thuận
Theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của Nghị định số 142/2017/NĐ-CP, một trong những hành vi vi phạm quy định về an toàn, an ninh, trật tự và vệ sinh đối với các hoạt động liên quan đến tàu thuyền là tổ chức bơi lội trong vùng nước cảng mà chưa được chấp thuận bởi Cảng vụ hàng hải. Vi phạm này sẽ bị xử phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.
Theo quy định tại Điều 5 của Nghị định số 142/2017/NĐ-CP, nguyên tắc xác định mức phạt tiền được thực hiện như sau: Mức phạt tiền áp dụng cho mỗi hành vi vi phạm hành chính quy định trong Nghị định này sẽ được áp dụng đối với cá nhân. Trong trường hợp có cùng một hành vi vi phạm hành chính, mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức sẽ là gấp đôi mức phạt tiền đối với cá nhân.
Theo quy định tại Nghị định số 142/2017/NĐ-CP, người tổ chức bơi lội trong vùng nước cảng mà chưa được chấp thuận của Cảng vụ hàng hải có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Mức phạt tiền áp dụng cho vi phạm này dao động từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.
Quy định này nhằm đảm bảo an toàn và trật tự trong hoạt động bơi lội tại các khu vực nước cảng. Cảng vụ hàng hải có vai trò quản lý và giám sát đối với hoạt động này, nhằm đảm bảo an toàn cho người tham gia và tránh các tai nạn đáng tiếc có thể xảy ra.
Việc yêu cầu chấp thuận từ Cảng vụ hàng hải trước khi tổ chức bơi lội trong vùng nước cảng là cần thiết để đảm bảo tuân thủ các quy định và quyền lợi của các bên liên quan. Cảng vụ hàng hải sẽ đánh giá và kiểm tra các yếu tố an toàn như điều kiện thời tiết, trang thiết bị bơi lội, khả năng cứu hộ và các biện pháp phòng ngừa tai nạn trước khi cấp phép cho hoạt động bơi lội.
Mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng được áp dụng nhằm trừng phạt vi phạm và đồng thời tác động răn đe đối với những người tổ chức vi phạm quy định. Mức phạt này được xem là phù hợp và cân nhắc vì nó có tính cứng nhưng không gây thiệt hại không đáng có đối với người vi phạm.
Tuy nhiên, việc xử phạt vi phạm hành chính không chỉ dừng lại ở mức phạt tiền mà còn có thể áp dụng các biện pháp khác như buộc thôi việc, tước quyền sử dụng các chứng chỉ hoặc giấy phép liên quan đến hoạt động bơi lội. Điều này nhằm tăng cường tính hiệu quả của biện pháp xử phạt và đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật.
Tổng kết lại, theo quy định tại Nghị định 142/2017/NĐ-CP, việc tổ chức bơi lội trong vùng nước cảng mà chưa được chấp thuận của Cảng vụ hàng hải có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng được áp dụng trong trường hợp này. Điều này nhằm đảm bảo an toàn và trật tự trong hoạt động bơi lội tại các khu vực nước cảng, đồng thời tác động răn đe và khuyến khích tuân thủ quy định của pháp luật.
2. Quyền xử phạt người tổ chức bơi lội trong vùng nước cảng khi chưa được chấp thuận của Cảng vụ hàng hải thuộc về thanh tra viên chuyên ngành hàng hải đúng không?
Căn cứ vào khoản 1 Điều 60 của Nghị định 142/2017/NĐ-CP, được sửa đổi bởi điểm a khoản 36 Điều 1 của Nghị định 123/2021/NĐ-CP, quy định về thẩm quyền của thanh tra như sau:
Theo quy định, các thanh tra viên thuộc thanh tra Bộ Giao thông vận tải và thanh tra viên chuyên ngành hàng hải, cũng như những người được giao nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành hàng hải đang thi hành công vụ, được đặc quyền và có quyền thực hiện những biện pháp sau đây:
- Phạt cảnh cáo: Thanh tra viên có thể áp dụng biện pháp này đối với những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải và hàng hải. Cảnh cáo nhằm nhắc nhở và đưa ra cảnh báo cho người vi phạm về hành vi sai trái và yêu cầu tuân thủ quy định.
- Phạt tiền đến 500.000 đồng: Thanh tra viên có thẩm quyền áp dụng biện pháp phạt tiền đối với các trường hợp vi phạm hành chính. Số tiền phạt không vượt quá 500.000 đồng, và mức phạt này được xác định dựa trên mức độ vi phạm và hậu quả gây ra.
- Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 1.000.000 đồng: Thanh tra viên được ủy quyền tịch thu tang vật, phương tiện có liên quan đến vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải và hàng hải. Giá trị của tang vật, phương tiện tịch thu không được vượt quá 1.000.000 đồng.
- Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Thanh tra viên có thể áp dụng biện pháp này để khắc phục hậu quả của vi phạm hành chính. Biện pháp này được quy định tại các điểm a và điểm c khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Theo quy định, nếu người tổ chức bơi lội trong vùng nước cảng mà chưa được chấp thuận bởi Cảng vụ Hàng hải, thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền cao nhất là 2.000.000 đồng. Tuy nhiên, Thanh tra viên chuyên ngành hàng hải không có quyền xử phạt người này.
Theo khoản 1 Điều 60 của Nghị định 142/2017/NĐ-CP, được sửa đổi bởi điểm a khoản 36 Điều 1 Nghị định 123/2021/NĐ-CP, quy định về thẩm quyền của thanh tra viên, Thanh tra viên chuyên ngành hàng hải có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử phạt trong lĩnh vực hàng hải. Tuy nhiên, theo nội dung trên, việc tổ chức bơi lội trong vùng nước cảng không thuộc phạm vi thẩm quyền của Thanh tra viên chuyên ngành hàng hải.
Do đó, Thanh tra viên chuyên ngành hàng hải không được quyền xử phạt người tổ chức bơi lội trong vùng nước cảng khi chưa có sự chấp thuận từ Cảng vụ Hàng hải. Thay vào đó, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với người này sẽ thuộc thẩm quyền của cơ quan có thẩm quyền, ví dụ như cơ quan quản lý vùng nước cảng hoặc cơ quan quản lý vi phạm hành chính tương ứng theo quy định của pháp luật hiện hành.
Điều này nhằm đảm bảo quyền hạn và trách nhiệm của từng cơ quan, đồng thời đảm bảo tính chuyên môn và hiệu quả trong việc xử lý vi phạm hành chính. Việc phân chia thẩm quyền giữa các cơ quan có thẩm quyền sẽ đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong quá trình thi hành và xử lý các vi phạm liên quan đến bơi lội trong vùng nước cảng.
3. Khi chưa được chấp thuận của Cảng vụ hàng hải thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với người tổ chức bơi lội trong vùng nước cảng là bao lâu?
Theo quy định tại Điều 3 của Nghị định 142/2017/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 của Nghị định 123/2021/NĐ-CP về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, có những quy định cụ thể về thời gian áp dụng các biện pháp xử phạt trong lĩnh vực hàng hải và một số lĩnh vực khác. Cụ thể: Theo quy định chung, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải là 01 năm. Điều này có nghĩa là từ khi hành vi vi phạm hành chính được phát hiện, cơ quan chức năng có thời gian 01 năm để tiến hành quá trình xử lý và áp dụng các biện pháp xử phạt đối với người, tổ chức có liên quan. Tuy nhiên, đối với một số hành vi vi phạm hành chính cụ thể trong lĩnh vực hàng hải, thời hiệu xử phạt được kéo dài lên đến 02 năm. Các hành vi này bao gồm vi phạm hành chính về xây dựng cảng biển, cảng cạn, công trình hàng hải, bảo vệ môi trường, quản lý giá và quản lý lao động ngoài nước.
Theo quy định tại Điều 3 của Nghị định số 142/2017/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 của Nghị định số 123/2021/NĐ-CP, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi tổ chức bơi lội trong vùng nước cảng khi chưa được chấp thuận của Cảng vụ hàng hải là 02 năm. Điều này áp dụng cho những trường hợp mà người tổ chức tổ chức hoạt động bơi lội trong vùng nước cảng mà chưa có sự đồng ý, chấp thuận từ phía Cảng vụ hàng hải.
Quy định này được đưa ra nhằm đảm bảo an toàn và bảo vệ lợi ích chung trong hoạt động bơi lội trong vùng nước cảng. Cảng vụ hàng hải có trách nhiệm quản lý và kiểm soát các hoạt động trong khu vực của cảng, bao gồm cả hoạt động bơi lội. Việc yêu cầu người tổ chức hoạt động bơi lội trong vùng nước cảng phải có sự chấp thuận từ Cảng vụ hàng hải là để đảm bảo rằng các hoạt động này tuân thủ các quy định, biện pháp an toàn và không gây nguy hiểm cho an ninh hàng hải, an toàn hàng hải và môi trường biển.
Thời hiệu xử phạt là 02 năm được xem là một khoảng thời gian đủ để người tổ chức hiểu rõ về việc chấp thuận và tuân thủ quy định của Cảng vụ hàng hải. Ngoài ra, thời gian này cũng cho phép cơ quan chức năng có đủ thời gian để tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ cần thiết và áp dụng các biện pháp xử phạt phù hợp.
Việc quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm cho hành vi tổ chức bơi lội trong vùng nước cảng khi chưa được chấp thuận của Cảng vụ hàng hải là một biện pháp quan trọng để thúc đẩy sự tuân thủ các quy định và tôn trọng quyền lợi của Cảng vụ hàng hải. Đồng thời, nó cũng góp phần tạo ra một môi trường an toàn và bảo vệ lợi ích chung trong hoạt động bơi lội trong vùng nước cảng.
Xem thêm >> Yêu cầu đối với tàu thuyền hoạt động trong vùng nước cảng biển mới?