1. Khái niệm nghĩa vụ.
Điều 274 Bộ luật dân sự 2015quy định về khái niệm nghĩa vụ như sau:
Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền).
Trong quan hệ nghĩa vụ luôn luôn tồn tại hai bên chủ thể là bên mang quyền và bên mang nghĩa vụ. Trong đó, bên mang quyền và bên mang nghĩa vụ có thể là một hoặc nhiều chủ thể, phụ thuộc vào từng quan hệ dân sự nhất định. Chủ thể có thể là cá nhân, pháp nhân, Nhà nước được pháp luật công nhận và được xác định rõ ràng cụ thể trong mọi quan hệ.
-Bên có quyền: là một bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ, trong đó bên có có quyền yêu cầu bên có nghĩa phải thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi nhất định đối với mình. Quyền của chủ thể được pháp luật công nhận và bảo hộ.
-Bên có nghĩa vụ: là mỗi bên trong quan hệ nghĩa vụ, trong đó bên có nghĩa phải thực hiện hoặc không thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định với bên có quyền. Nghĩa vụ được đảm bảo thực hiện bằng quy định của pháp luật.
Thông thường, trong quan hệ nghĩa vụ thường có tính chất song vụ. Tức chủ thể vừa là bên có quyền vừa là bên có nghĩa vụ và ngược lại, nghĩa vụ bên này tương ứng với quyền của bên kia. Các bên vừa có quyền yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ nhất định nằm đảm bảo thực hiện quyền của mình, vừa phải thực hiện nghĩa vụ để đảm bảo quyền lợi của bên kia. Tuy nhiên tùy theo tính chất của từng quan hệ mà bên có quyền yêu cầu không phải thực hiện nghĩa vụ, tương tự bên có nghĩa vụ chỉ thực hiện nghĩa vụ mà không có quyền yêu cầu, trường hợp này gọi là quan hệ đơn vụ.
Trong quan hệ nghĩa vụ, các chủ thể tham gia quan hệ thông qua hành vi của mình thực hiện nghĩa vụ với bên có quyền nhằm hướng đến những lợi ích vật chất, tinh thần mà các bên mong muốn. Căn cứ vào quy định trên, chủ thể mang nghĩa vụ phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không thực hiện công việc nhất định cho chủ thể mang quyền. Trong quan hệ nghĩa vụ, việc một chủ thể hướng tới quyền lợi của chính mình chính là việc hướng tới hành vi thực hiện nghĩa vụ của bên kia và ngược lại
Khách thể của quan hệ nghĩa vụ là những xử sự của các bên chủ thể mà chỉ thông qua đó, quyền yêu cầu cũng như nghĩa vụ của các bên chủ thể mới được thực hiện. Thông quan các hành vi mà quyền lợi của các chủ thể được thực hiện. Vì vậy, hành vi là cái mà các chủ thể đều hướng tới, là khác thể thể của mọi quan hệ nghĩa vụ. Do đó, hành vi cũng rất đa dạng và phong phú, bao gồm: Hành vi gắn liền với vật, là hành vi gắn liền với một vật nhất định mà nếu không có vật đó thì sẽ không có hành vi, ví dụ như hợp đồng mua bán tài sản; Hành vi không gắn liền với vật, là hành vi mà chỉ cần quan tâm đến hành vi cụ thể của chủ thẻ mà không liên quan đến vật, ví dụ như hợp đồng dịch vụ.
Quan hệ pháp luật dân sự luôn hàm chứa sự thỏa thuận hoặc quy định của pháp luật tạo ra quyền và nghĩa vụ tương xứng của các bên chủ thể. Trong quan hệ nghĩa vụ việc một bên thực hiện việc chuyển giao quyền, chuyển giao vật,…nhằm mục đích thỏa thỏa mãn nhu cầu của bên còn lại. Như vậy việc bên có nghĩa vụ thực hiện các công việc cụ thể theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật được xác định là nghĩa vụ của bên đó trước bên có quyền. Từ đó, có thể hiểu nội dung là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ.
2. Căn cứ phát sinh nghĩa vụ.
Theo điều 275 Bộ luật dân sự 2015 thì
Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây:
1. Hợp đồng.
2. Hành vi pháp lý đơn phương.
3. Thực hiện công việc không có ủy quyền.
4. Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
5. Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.
6. Căn cứ khác do pháp luật quy định.
- Hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 “là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Đó là sự thỏa thuận giữa các bên về việc mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, cho thuê, mượn tài sản hoặc về việc thực hiện một công việc, theo đó làm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên trong hợp đồng. Với tính chất này, khi các bên thỏa thuận nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của nhau thì đây sẽ là căn cứ hình thành nghĩa vụ.
- Hành vi pháp lý đơn phương là hành vi của cá nhân thể hiện ý chí tự do, tự nguyện, tự định đoạt của bản thân nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Khi một người thực hiện một hành vi pháp ký đơn phương thì có thể làm phát sinh nghĩa vụ của người đó với người khác hoặc phát sinh nghĩa vụ của người khác với người thứ ba.
- Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.
- Khi một người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật sẽ làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả của người đó kể từ khi người đó có khoản lợi trong tay. Từ thời điểm người đó biết hoặc phải biết việc được lợi thì phải hoàn trả khoản lợi mà mình đã thu được.
- Thực hiện hành vi gây thiệt hại trái pháp luật sẽ phát sinh quan hệ bồi thường thiệt hại. Trong quan hệ này, bên gây thiệt hại phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho bên bị thiệt hại.
- Trường hợp này do pháp luật khác quy định, để tránh sự bỏ sót phát sinh trong thực tiễn. Đó là những căn cứ pháp lý do pháp luật quy định điều chỉnh các quan hệ nghĩa vụ về tài sản giữa các chủ thể trong quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực dân sự.
3. Đối tượng của nghĩa vụ.
Theo quy định tại điều 275 Bộ luật dân sự 2015 quy định.
1. Đối tượng của nghĩa vụ là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện.
2. Đối tượng của nghĩa vụ phải được xác định.
Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 tài sản bao gồm:
+ Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
+ Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.
Đây là những gì các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ tác động tới để qua đó thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình.
- Công việc phải thực hiện
Không có văn bản quy phạm pháp luật giải thích thuật ngữ “công việc phải thực hiện” là gì. Tuy nhiên, thuật ngữ “công việc” có thể hiểu là một dạng hoạt động cụ thể mà một bên mong muốn xác lập quan hệ nghĩa vụ để bên còn lại thực hiện hoạt động này. Hoạt động này có thể thông qua hoặc không thông qua hành vi cụ thể. Và qua hoạt động này, bên yêu cầu có thể thỏa mãn được các nhu cầu về lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần. Do đó, công việc phải thực hiện được hiểu là những hoạt động thể hiện thông qua hành vi cụ thể.
- Công việc không được thực hiện
Công việc không được thực hiện là những hoạt động không thông qua hành vi – tức là thể hiện dưới dạng không hành động cụ thể. Hoạt động này cũng sẽ là đối tượng của quan hệ nghĩa vụ khi các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định mà thông qua hoạt động này, một trong các bên có được những quyền và lợi ích của mình.
Một trong những nguyên tắc để thực hiện được quyền và nghĩa vụ từ sự thỏa thuận hoặc pháp luật của các bên, đối tượng là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện cần phải xác định được một cách rõ ràng. Điều này hoàn toàn là sự phù hợp, khi đối tượng không thể xác định thì các bên chủ thể không thể tác động vào đó để thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích của mình. Đồng thời, các bên chủ thể càng không thể tạo ra các quyền và nghĩa vụ một cách cụ thể.
4. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ.
Thời hạn thực hiện nghĩa vụ do các bên thoả thuận, theo quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan quy định khác.
Trường hợp bên có nghĩa vụ đã tự ý thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn và bên có quyền đã chấp nhận việc thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ được coi là đã hoàn thành đúng thời hạn.
Trường hợp không xác định được thời hạn thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 Điều này thì mỗi bên có thể thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ vào bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý.
5. Địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Địa điểm thực hiện nghĩa vụ là vị trí không gian xác định để các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình. Địa điểm thực hiện nghĩa vụ của các bên được quy định tại Điều 277 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 277. Địa điểm thực hiện nghĩa vụ
1. Địa điểm thực hiện nghĩa vụ do các bên thỏa thuận.
2. Trường hợp không có thỏa thuận thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ được xác định như sau:
a) Nơi có bất động sản, nếu đối tượng của nghĩa vụ là bất động sản;
b) Nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ không phải là bất động sản.
Khi bên có quyền thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sở thì phải báo cho bên có nghĩa vụ và phải chịu chi phí tăng lên do việc thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sở, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Là nơi các bên thỏa thuận.
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các bên thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ nghĩa vụ đã xác lập, pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của các bên chủ thể xác định vị trí không gian để thực hiện nghĩa vụ của mình. Đây cũng được xác định là nguyên tắc tối cao trong quan hệ pháp luật dân sự. Địa điểm thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận của các bên phải là nơi có thể tiến hành việc thực hiện nghĩa vụ, tránh trường hợp các bên xác định địa điểm không thể tiến hành thực hiện nghĩa vụ như những địa điểm quân sự, địa điểm không còn tồn tại...
- Trường hợp các bên chủ thể không có thỏa thuận, pháp luật dự liệu như sau:
+ Nơi có bất động sản, nếu đối tượng của quan hệ nghĩa vụ là bất động sản (quy định xác định bất động sản tại Điều 107 Bộ luật dân sự năm 2015). Bất động sản là những tài sản có tính chất không thể di dời được, do đó, việc xác định thẹo nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ tại nơi có bất động sản là hoàn toàn hợp lý. Ví dụ: A bán cho B căn nhà. Vậy, địa điểm thực hiện nghĩa vụ giao nhà là nơi có căn nhà.
+ Nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ không phải là bất động sản. Nơi cư trú nếu bên có quyền là cá nhân - việc xác định nơi cư trú phải phù hợp với Bộ luật dân sự và Luật Cư trú năm 2006, sửa đổi bổ sung 2013. Trụ sở - nếu bên có quyền là pháp nhân, chủ thể khác. Việc xác định trụ sở của pháp nhân thường gắn liền với hoạt động đăng ký hoặc thay đổi đăng ký kinh doanh, cấp phép hoạt động. Trụ sở này được ghi trên giấy phép hoạt động của chủ thể loại này.