Đến nay người chồng đã đi thêm một bước nữa và đang chung sống với người sau này. Theo tôi được biết trong luật hôn nhân và gia đình có quy định. Tài sản riêng của chồng hoặc vợ có trước khi kết hôn (được cơ quan có thẩm quyền xác nhận) gồm tài sản thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ hoặc chồng theo quy định tại các điều 38,39 và 40. Còn Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kì hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, tài sản do cho tặng và do vợ chồn thỏa thuận là tài sản chung. Như vậy: trong luật hôn nhân và gia đình. Khi ly hôn tài sản riêng của vợ hoặc chồng thì sẽ vẫn là tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Còn tài sản chung sẽ do vợ chồng thỏa thuận còn nếu không thỏa thuận được thì sẽ theo quy định của pháp luật ( được quy định ở đều 59, 60, 61, 62, 63, 64 của luật này)Vậy các khoản nợ của vợ, chồng trong hôn nhân thì sao? Và trường hợp của tôi đặt ra sẽ được giải quyết như thế nào?
Tôi xin cảm ơn!
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hôn nhân gia đìnhcủa Công ty Luật Minh Khuê
Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình trực tuyên, gọi:1900.6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
Cơ sở pháp lý:
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014
Nội dung tư vấn:
Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định:
Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng
"1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.
2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này."
Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
"Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan."
Điều 45. Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng
"Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:
1. Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;
2. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật này;
3. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;
4. Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng."
Điều 60. Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn
"1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.
2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết."
Theo quy định của pháp luật hôn nhân gia đình thì sau khi ly hôn thì nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác. Tức là, trong thời kì hôn nhân, hai vợ chồng có thực hiện vay một khoản tiền, thì sau khi ly hôn, vợ chồng liên đới thực hiện nghĩa vụ trả nợ, trừ trường hợp ví dụ như vợ chồng và người thứ ba (người cho vay) thỏa thuận để chồng trả nợ.
Về trường hợp bạn đặt ra, vợ là người vay, trong giấy vay không có chữ ký của chồng, tuy nhiên, chưa thể khẳng định hai vợ chồng có thỏa thuận với nhau hay không? Nếu thỏa thuận thì được coi khoản nợ chung, tức hai vợ chồng có nghĩa vụ liên đới trả nợ. Trong trường hợp, chỉ người vợ xác lập giao dịch và người chồng không biết, thì trường hợp này, áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 37, tức phải xác định giao dịch đó có nhằm mục đích sinh hoạt thiết yếu hay không? Nếu nhằm mục đích sinh hoạt thiết yếu thì được coi nghĩa vụ chung của vợ chồng, tức sau khi ly hôn vợ chồng liên đới trả nợ.
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.
Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận Luật sư hôn nhân gia đình.