1. Ngoại tình dẫn đến ly hôn có vi luật không?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có 3 vấn đề muốn hỏi luật sư,mong luật sư trả lời giúp tôi. thứ nhất tôi muốn hỏi nếu vợ tôi ngoại tình với người có gia đình . thu2 hiện tại cô ấy đang nuôi con,va hai mẹ con đang ở nhà anh chị,mà người vợ tôi đang ngoại tinh là hang xóm va thân thiết với gia đinh anh chị vợ tôi anh ta cũng có gia đình và hai đứa con. Thứ ba, nếu ra tòa tôi có được quyền nuôi con gái không ạ ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Như vậy thì có thể vợ của bạn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP: Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trog lĩnh vực bổ trợ tư pháp

Điều 59. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:a) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

b) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;

c) Cưỡng ép kết hôn hoặc lừa dối kết hôn; cưỡng ép ly hôn hoặc lừa dối ly hôn;

d) Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình;

đ) Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các điểm d và đ khoản 2 Điều này.

Việc vợ bạn ngoại tình thì đấy cũng là căn cứ để bạn đơn phương ly hôn. Về việc bạn có quyền được nuôi con hay không thì cần phải căn cứ vào điều kiện về kinh tế và độ tưởi của con gái bạn để xác định quyền nuôi con. Về nguyên tắc quyền nuôi con theo sự thỏa thuận của hai vợ chòng bạn nếu không thỏa thuận thì sẽ căn cứ quy định sau Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014

Điều 81

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

 

2. Ngoại tình có bị xử lý hình sự?

Thưa Luật sư, vợ chồng em lấy nhau từ năm 2002 đến nay đã có 2 con, cách đây 2 tháng em phát hiện ra chồng em có quan hệ với một người bạn của anh ấy và đã có với nhau 1 đứa con trai 4 tuổi. Em muốn xác nhận từ chồng em thì chồng em đã thừa nhận là việc đúng, anh cho em hỏi, nếu em đưa đơn kiện thì chồng em có bị xử lý hình sự hay không ?
Xin chân thành cảm ơn Luật sư.
- T. N. T

>> Luật sư tư vấn hình sự về ngoại tình, gọi:1900.6162

 

Trả lời :

Theo như bạn trình bày thì chồng bạn ngoại tình và đã có với người phụ nữ khác một đứa con chung. Tuy nhiên, để kết luận chồng bạn có bị xử lý hình sự hay không thì phải xem xét hành vi của chồng bạn có cấu thành tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo điều 181 Luật Hình sự 2015 không. Cụ thể là :

Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

Nếu chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự thì chồng bạn và người phụ nữ kia có thể bị xử phạt hành chính theo điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP cụ thể :

Điều 59. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.

Về thẩm quyền xử phạt được quy định tại Nghị định 82/2020/NĐ-CP, cụ thể là :

Điều 88. Phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

1. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp:

a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 Điều 48; khoản 1 Điều 58; khoản 1 Điều 61; các điểm b và c khoản 1 Điều 62 Nghị định này;

b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 34; các Điều 35, 36 và 37; khoản 1 và khoản 2 Điều 38; Điều 40; khoản 1 và khoản 2 Điều 41; Điều 42 và Điều 43; khoản 1 và khoản 2 Điều 44; các khoản 1, 2 và 3 Điều 45; Điều 48 và Điều 49; các khoản 1, 2 và 3 Điều 56; khoản 1 và khoản 2 Điều 57; Điều 58; khoản 1 Điều 59; các Điều 60, 61 và 62 Nghị định này;

c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại Chương II; Chương III; Chương IV; các Điều 78, 79 và 80; Chương VII Nghị định này.

 

3. Ngoại tình bị tống tiền có vi phạm pháp luật?

Thưa luật sư, Công ty cho tôi hỏi: Cách đây khoảng 1 tháng, tôi và cô ấy đều có gia đình nhưng do thường xuyên gặp nhau nên phát sinh tình cảm. Sau đó chúng tôi hẹn nhau ra nhà nghỉ, trong lúc ở trong nhà nghỉ thì bị chồng cô ta phát hiện. Sau đó anh ấy liên tục nhắn tin, gọi điện đe dọa và đòi tôi phải đưa cho anh ấy 20 triệu nếu không sẽ công khai cho mọi người biết.

Vì tôi muốn cho xong chuyện nên tôi đồng ý. Nhưng tôi sợ khi đã đưa anh ấy 20 triệu rồi nhưng anh ấy vẫn đòi tiền tiếp, do đó tôi chưa đưa tiền. Công ty cho tôi hỏi như vậy tôi và chồng cô ta có vi phạm pháp luật hay không? Nếu vi phạm thì bị xử lý thế nào?

Tôi xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Pháp luật Việt Nam quy định rõ về tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng tại Điều 182 Bộ Luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:

"1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó."

Trường hợp của bạn mới chỉ dừng lại ở mức độ "qua lại với nhau" chứ chưa chung sống như vợ chồng hay kết hôn, vì vậy, việc làm của bạn không vi phạm pháp luật.

- Tiếp theo xét đến hành vi của anh chồng "cô ấy". Theo như lời bạn thì hành vi của anh chồng kia đã cấu thành tội phạm hình sự. Vì sao lại khẳng định như vậy? Căn cứ vào Điều 170 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

"1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, hành vi nhắn tin đe dọa của anh chồng kia đã làm ảnh hưởng tới tinh thần của bạn hay nói cách khác là đã uy hiếp tinh thần của bạn nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, ở đây là số tiền 20 triệu đồng chẵn đã cấu thành tội phạm hình sự và có thể bị phạt tù .

Công ty xin góp ý với bạn rằng, trường hợp của bạn, bạn nên báo cho cơ quan công an để ngăn chặn kịp thời, tránh để xảy ra hậu quả không đáng có.

 

4. Đăng ảnh người khác ngoại tình có vi phạm pháp luật?

Kính chào luật sư. Em tên là D. Em muốn tìm hiểu một số thông tin. Nhờ bên văn phòng luật sư tư vấn. Cụ thể như sau: Chị gái em kết hôn với 1 người đàn ông và đã có em bé được hơn 2 tuổi. Tuy nhiên, trong 6-7 tháng trở lại đây, người này thường xuyên viện cớ là phải đi trực (vì người này làm việc liên quan đến lĩnh vực an ninh - công an) nên chị em cũng không nghi ngờ gì.

Gần đây, chị ý phát hiện anh này có bồ và công khai trên các trang mạng xã hội. Hơn thế nữa, họ còn đòi cưới nhau. Quá shock, chị ý có đăng bài viết lên trang eva (là hội kín) và tâm sự (có đăng kèm ảnh của anh này). Sau này, có 1 người em chơi cùng chị gái em chia sẻ lên fb cá nhân của em ý (không nhắc đến tên mà chỉ chia sẻ - có ảnh), mọi người đọc được và share. Anh đó bị chuyển công tác. Giờ anh đó đang kiện người em chơi cùng này.

Vậy, em muốn hỏi: 1. Anh đó có thể kiện người em này được không?

2. Chị gái em có thể kiện anh đó tội ngoại tình được không?

Rất mong nhận được sự giúp đỡ của bên văn phòng. Trân trọng cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

 

Trả lời:

1. Về khởi tố người em đó?

Theo quy định tại Điều 121 Bộ Luật Hình sự 2015 về tội làm nhục người khác thì:

Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

Làm nhục người khác là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của con người. Người phạm tội phải là người có hành vi (bằng lời nói hoặc hành động) xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác như lăng mạ, chửi rủa thậm tệ, cạo đầu, cắt tóc, lột quần áo, quay clip... Để làm nhục người khác, người phạm tội có thể có những hành vi vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực như bắt trói, tra khảo, vật lộn, đấm đá hoặc khống chế, đe dọa, buộc người bị hại phải làm theo ý muốn của mình. Nếu hành vi làm nhục người khác cấu thành một tội độc lập thì tùy từng trường hợp cụ thể, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác và tội tương ứng với hành vi đã thực hiện.Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì người em này chỉ chia sẻ ảnh mà trước đó chị này( bồ) đã đăng lên facebook, em này không nhắc đến tên mà chỉ chia sẻ - có ảnh. Theo quy định của pháp luật thì chỉ trong trường hợp này nếu hành vi nêu trên nhằm mục đích xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác thì mới có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sựnếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại điều 121 BLHS hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính . Còn đơn thuần chỉ là chia sẻ ảnh thì không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, nếu chỉ là hành vi chia sẻ ảnh nêu trên khiến người đàn ông kia bị chuyển công tác, và hiện tại ông ta muốn khởi tố người em đó là chưa đủ cơ sở.

2. Có thể kiện về tội ngoại tình được không ?

Để bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, tại Khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:

“2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;…”

Do đó, trong trường hợp người vợ và người chồng chưa ly hôn nhưng nếu có căn cứ người chồng đó đã có hành vi chung sống với người phụ nữ khác, người phụ nữ đó lại đó có bẩu thì người chồng thì đủ cơ sở để kết luận người chồng đã vi phạm chế độ hôn nhân 1 vợ một chồng, vi phạm điều cấm của pháp luật. Vì thế, người vợ có thể gửi đơn lên Ủy ban nhân dân xã đề nghị xử lý hành vi vi phạm pháp luật của người chồng và người phụ nữ đó.

Khoản 1 Điều 48 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã quy định:

"1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;

đ) Kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi;

e) Kết hôn giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Tại Điều 127 BLHS cũng quy định như sau:

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”


Như vậy, nếu như người vợ có bằng chứng về việc người chồng có ngoại tình và có con với người phụ nữ khác, sau đó bên cơ quan, đoàn thể nơi bạn công tác nhận được thông tin này thì có thể anh sẽ phải chịu những biện pháp giáo dục, kỷ luật tùy theo điều lệ của cơ quan, tổ chức nơi bạn làm việc… Nếu như sau khi giáo dục, người chồng này vẫn tiếp tục hành vi của mình, dẫn đến gia đình tan vỡ, vợ chồng ly hôn hoặc có những hậu quả nghiêm trọng khác thì người chồng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 147 Bộ Luật hình sự.Còn theo như thông tin mà bạn cung cấp nêu trên thì chồng của người này mới chỉ dự định sẽ cưới mà không có căn cứ hay bằng chứng gì thêm thì người chồng này không thể truy cứu trách nhiệm hành chính hay hình sự về tội ngoại tình được.

 

5. Buôn chuyện người khác ngoại tình bị xử lý thế nào?

Kính chào các Quý luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Em có một vấn đề muốn nhờ luật sư tư vấn. Vừa qua trong lúc vợ của em nói chuyện với chị gái của em (chị em la cán bộ xã), vợ em có hỏi một người làm chung với chị em là có quan hệ bất chính với những người trong cơ quan của chị em.

Mấy hôm sau chị em có kể lại chuyện đó với những người trong cơ quan. Chuyện đến tai người mà vợ em nói, bây giờ chị đó định thưa. Luật sư cho em hỏi vợ em có thể bị gì không. Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư!

Người gửi: PV Ngan

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Theo quy định tại điều 34 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổ chức... đều được pháp luật bảo vệ. Người nào xúc phạm, làm ảnh hưởng, thiệt hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác đều phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.

4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.

5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

Tùy theo từng tình tiết, mức độ của sự việc mà vợ bạn có thể chỉ phải bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra hoặc vợ bạn vừa phải bồi thường thiệt hại vừa phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Vợ bạn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác hoặc tội vu khống theo quy định tại điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015

Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.