Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162

1. Cơ sở pháp lý:

- Công ước Liên hiệp quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển năm 1978

2. Người chuyên chở là gì?

Khoản 1 và 2 Điều 1 Công ước Hamburg giải thích về thuật ngữ "người chuyên chở" như sau:

Người chuyên chở là bất kỳ người nào, tự mình hoặc trên danh nghĩa của mình, một hợp đồng vận tải bằng đường biển đã được ký kết với người gửi hàng.

Người chuyên chở thực tế là bất kỳ người nào được người chuyên chở ủy thác thực hiện việc chuyên chở hàng hóa hoặc một phần việc chuyên chở đó, và bao gồm bất kỳ người nào khác được giao phó thực hiện việc chuyên chở đó.

3. Trách nhiệm của người chuyên chở và người chuyên chở thực sự

Điều 10 Công ước Hamburg quy định về trách nhiệm của người chuyên chở và người chuyên chở thực sự như sau:

1. Khi việc chuyên chở hay một phần chuyên chở được giao cho người chuyên chở thực sự đảm nhiệm, dù việc ủy thác đó có phù hợp với quyền tự do trong họp đồng chuyên chở bằng đường biển hay không thì người chuyên chở vẫn phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ quá trình chuyên chở theo đúng những quy định của Công ước này. Đối với phần chuyên chở do người chuyên chở thực sự tiến hành, người chuyên chở phải chịu trách nhiệm về những hành vi và thiếu sót của người chuyên chở thực sự và của người làm công, đại lý của người chuyên chở thực sự chỉ khi những người này hoạt động trong phạm vi công việc được giao.

2. Tất cở các quy định của Công ước này điều chỉnh trách nhiệm của người chuyên chở cũng được áp dụng đối với trách nhiệm củangười chuyên chở thực sự trong quãng đường chuyên chở do người này thực hiện. Những quy định của mục 2 và 3 Điều 7 và của mục 2 Điều 8 sẽ áp dụng nếu có việc kiện người làm công hoặc đại lý của người chuyên chở thực sự.

3. Bất kỳ thỏa thuôn đặc biệt nào mà theo đó người chuyên chở đảm nhận những nhiệm vụ không được đặt ra trong Công ước hoặc từ bỏ những quyền được hưởng theo Công ước này chỉ có hiệu lực đối với ngưòi chuyên chở thực sự nếu được người chuyên chở thực sự đồng ý rõ ràng bằng văn bản. Dù ngưòi chuyên chở thực sụ có đồng ý như vậy hay không, người chuyên chở vẫn bị ràng buộc bởi những nghĩa vụ hoặc bởi những sự từ bỏ phát sinh từ sự thỏa thuận đặc biệt đó.

4. Trong trường hợp và trong chừng mực mà cả người chuyên chở và người chuyên chở thực sự cùng chịu trách nhiệm thì trách nhiệm của họ là liên đới và riêng biệt.

5. Tổng số tiền bồi thường mà ngưòi chuyên chở, người chuyên chở thực sự và những người làm công và đại lý của họ phải chịu không được vượt quá những giới hạn trách nhiệm quy định trong Công ước này

6. Không một quy định nào trong điều này làm phương hại đến quyền truy đòi có thể có giữa người chuyên chở và người chuyên chở thực sự.

3.1. Người ký hợp đồng chuyên chở

Điều 10 Quy tắc Hamburg khắc phục một điểm hạn chế của Quy tắc Hague là không phân biệt giữa người chuyên chở và người chuyên chở thực sự cũng như chưa đặt ra việc điều chỉnh mối quan hệ giữa họ với nhau và/hoặc với chủ hàng. Quy tắc Hamburg khẳng định người chuyên chở được quy ước chia thành hai nhóm: người ký hợp đồng chuyên chở với người gửi hàng và người chuyên chở thực sự.

Theo Điều 10.1 khi người ký hợp đồng chuyên chở giao phó công việc chuyên chở hoặc một phần công việc này cho người chuyên chở thực sự thì người ký hợp đồng chuyên chở vẫn phải chịu trách nhiệm đối với tổn thất, tổn hại hoặc chậm trễ giao hàng trong toàn bộ quá trình vận chuyển, mà không quan tâm đến thỏa thuận của anh ta với người chuyên chở thực sự. Hơn nữa, người ký hợp đồng chuyên chở còn phải chịu trách nhiệm về hành vi và thiếu sót của người chuyên chở thực sự, người làm công hay đại lý của anh ta khi những người này hoạt động trong phạm vi những công việc được giao.

3.2. Người chuyên chở thực sự

Điều 10.2 bắt buộc người chuyên chở thực sự có trách nhiệm đối với các quyền lợi hàng hóa với cùng phạm vi như người ký hợp đồng chuyên chở,đối với công việc chuyên chở được họ thực hiện. Nguyên tắc này là một điều rất quan trọng trong thực tế. Trách nhiệm của người chuyên chở thực sự không phụ thuộc vào những quy định riêng có hiệu lực trong hợp đồng chuyên chở hoặc các chứng từ vận tải khác, nó được bắt nguồn từ chính Quy tắc Hamburg. Theo Điều 10.4 thì trách nhiệm của người chuyên chở thực tế và người ký hợp đồng chuyên chở là liên đới và riêng biệt. Quy định này đi theo mô hình của luật hàng không được trình bày ở Công ước Guadalajara.

Quy tắc Hague không quy định trách nhiệm của người chuyên chở thực sự, để giải quyết vấn đề này phải tham khảo luật quốc gia. Tuy nhiên, đối với người gửi hàng việc định danh được bên ký kết hợp đồng là rất khó khăn. Thậm chí nhiều khi người gửi hàng chỉ được biết rằng người phát hành vận tải đơn không phải là bên ký hợp đồng với họ ngay trước khi mở phiên toà xử vụ kiện. Sự không chắc chắn đó dẫn tới hậu quả vô cùng phiền phức. Theo Quy tắc Hamburg, mặc dù người ký hợp đồng chuyên chở tiếp tục làm khó hiểu về định danh của bên ký hợp đồng với người gửi hàng, người có quyền lợi hàng hóa vẫn được bảo vệ bởi trách nhiệm liên đới của người chuyên chở thực tế, là người đã xác định được trụ sở của họ và việc đưa họ ra toà dễ dàng hơn nhiều so với việc khiếu nại người ký hợp đồng chuyên chở.

Người chuyên chở thực sự có trách nhiệm chỉ đối với những đoạn vận chuyển giao phó cho anh ta. Hội nghị Hamburg đã quyết định phản đối việc bắt buộc người chuyên chở thực sự phải liên đới trách nhiệm với ngươi ký hợp đồng chuyên chở trong toàn bộ chuyến vận chuyển, vì điều này đã đi quá xa. Vì vậy, để ràng buộc trách nhiệm của người chuyên chử thực sự theo Quy tắc Hamburg, người có quyền lợi hàng hóa phải chứng minh rằng tổn thất đã xảy ra trong đoạn chuyên chở do người chuyên chở thực sự thực hiện.

3.3. Những quy định khác về trách nhiệm

Điều 10 Khoản 3 đến 6 bao gồm các Quy tắc thêm vào để làm cho quy định chặt chẽ hơn.

Điều 10.3 chỉ ra rằng, mọi thỏa thuận đặc biệt mà theo đó người chuyên chở đảm nhận những nghĩa vụ không được đặt ra trong Quy tắc, hoặc bãi bỏ những quyền được hưởng theo Quy tắc, sẽ không có hiệu lực đối với người chuyên chở thực sự trừ khi họ đồng ý rõ ràng bằng văn bản.

Điều 10.4 nói rõ rằng, trong trường hợp và trong phạm vi cả người ký hợp đồng chuyên chở và người chuyên chở thực tế cùng phải chịu trách nhiệm thì trách nhiệm của họ là liên đới và riêng biệt. Theo Điều 10.4 thì tổng số tiền bồi thường tối đa từ cả hai bên người chuyên chở thực sự và người ký hợp đồng chuyên chở không vượt quá giới hạn trách nhiệm theo quy định của Quy tắc.

Điều 10.6 quy định rằng, không có một quy định nào trong Điều 10 làm phương hại đến quyền truy đòi giữa người chuyên chở thực sự và người ký hợp đồng chuyên chở. Như vậy, theo Quy tắc Hamburg người chuyên chở thực sự và người ký hợp đồng chuyên chở được tự do thỏa thuận phân chia như thế nào giữa họ về trách nhiệm liên đới của họ đối với người có quyền lợi hàng hóa.

4. Chuyên chở suốt là gì?

4.1. Quy định về chuyên chở suốt

Điều 11 Công ước Hamburg quy định về chuyên chở suốt như sau:

1. Mặc dù có những quy định của Điều 10 (1), khi một hợp đồng chuyên chở bằng đường biển quy định rõ ràng một bộ phận cụ thể của việc chuyên chở theo hợp đồng đó được thực hiện bởi một người cụ thể khác, không phải là người chuyên chở, thì hợp đồng cũng có thể quy định rằng, người chuyên chở không chịu trách nhiệm về sự mất mát, hư hỏng hoặc chậm giao hàng mà nguyên nhân là một sự kiện xảy ra trong khi hàng hóa thuộc trách nhiệm của người chuyên chở thực sự trong bộ phận chuyên chở đó. Tuy nhiên bất kỳ quy định nào hạn chế hoặc loại trừ trách nhiệm đó đều vô hiệu, nếu không thể kiện được người chuyên chở thực sự tại một tòa án có thẩm quyền theo mục 1 hoặc mục 2 Điều 21. Người chuyên chở có trách nhiệm chứng minh rằng mọi sự mất mát hư hỏng hoặc chậm giao hàng là do sự kiện đó gây ra.

2. Người chuyên chở thục sự chịu trách nhiệm theo đúng những quy định ở Điều 10 (2) về mất mát hư hỏng hoặc chậm giao hàng do một sự kiện xảy ra trong khi hàng hóa đang thuộc trách nhiệm cúa mình.

4.2. Nguyên tắc

Điều 11.1 cho phép người ký hợp đồng chuyên chở, trong hợp đồng chuyên chở, được loại trừ trách nhiệm của mình đối với tổn thất, tổn hại hoặc chậm giao hàng có thể quy cho người chuyên chở thực sự trong một số trường hợp nào đó của quá trình vận tải. Ví dụ, việc thực hiện quá trình vận chuyển bởi hai hoặc nhiều hơn những người chuyên chở đường biến liên tiếp. Muốn vậy, hợp đồng vận chuyển đường biển phải quy định rõ ràng từng chặng vận chuyển được thực hiện bởi một người chuyên chở khác. Hơn nữa người chuyên chở thực sự phải được chỉ định tên chính xác trong hợp đồng chuyên chở và nó phải đủ tính pháp lý để tiến hành kiện người chuyên chở thực sự đó theo Quy tắc Hamburg ra một tòa án có thẩm quyền theo mục 1 hoặc mục 2 của Điều 21. Người chuyên chở có trách nhiệm chứng minh tổn thất, tổn hại hoặc chậm giao hàng là do sự cố xảy ra trong phạm vi của người chuyên chở thực sự.

Thực chất Điều 11 là một trường hợp loại trừ cho Điều 10, nhưng nó không giải quyết được đối với vận tải đa phương thức. Mặt khác, Điều 11 lại hỗ trợ bảo vệ cho các quyền lợi hàng hóa bởi một vài lý do sau:

Thứ nhất, nó duy trì trách nhiệm của người ký hợp đồng chuyên chở trong những giai đoạn của quá trình vận chuyển khi mà người chuyên chở thực sự không chịu trách nhiệm về hàng hóa. Ví dụ, như trong khi chuyển tải hoặc khi tạm thời lưu kho trong khu vực cảng.

Thứ hai, nó đòi hỏi người chuyên chở thực sự phải được chỉ định tên chính xác trong hợp đồng chuyên chở như vậy người có quyền lợi hàng hóa có thể xác định chính xác người này.

Thứ ba, quan trọng nhất là nó đảm bảo rằng người ký hợp đồng chuyên chở có thể loại trừ trách nhiệm của anh ta chỉ khi mà người khiếu nại có thể kiện được người chuyên chở thực sự.

4.3. Trách nhiệm của người chuyên chở thực sự

Điều 11.2 bắt buộc người chuyên chở thực sự chịu trách nhiệm theo đúng các quy định tại Điều 10.2 đối với tổn thất, tổn hại hoặc chậm giao hàng gây ra bởi sự cố xảy ra trong khi hàng hóa đang thuộc trách nhiệm của anh ta. Điều này bổ sung đầy đủ cho khung pháp lý về trách nhiệm liên đới và độc lập giữa người ký hợp đồng chuyên chở với người chuyên chở thực sự và làm cho nó trở nên dễ hiểu.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập