Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I. Cơ sở pháp lí:

Luật bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 của Quốc hội

Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số nội dung Bộ luật Lao động

Nghị định số 95/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động

Thông tư số 21/2007/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

Nghị định số 126/2007/NĐ-CP của Chính phủ

II. Nội dung tư vấn:

>> Xem thêm:  Công ty cho nghỉ việc và bồi thường khi chấm dứt hợp đồng lao động?

Em xin hỏi luật sư: Hiện Công ty em là Công ty cổ phần chịu sự kiểm soát của một tổng công ty, tuy nhiên tổng công ty chỉ là một cổ đông lớn và hai công ty có hoạch toán độc lập. Nhưng giờ Công ty em muốn chuyển bớt một số người lao động đã ký hợp đồng lao động với công ty em sang làm việc tại tổng công ty thì làm thế nào cho đúng luật, mong luật sư giúp em. Xin cảm ơn luật sư!

1.Điều kiện điều chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động

Điều 31 Bộ luật lao động quy định về việc chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động. Điều 8 Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn điều 31 Bộ luật lao động (BLLĐ). Theo đó, trong trường hợp do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động được tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động với các điều kiện:

- Quy định cụ thể trong nội quy của doanh nghiệp trường hợp do nhu cầu sản xuất, kinh doanh mà người sử dụng lao động được tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động;

- Phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khoẻ, giới tính của người lao động.

- Không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm, trường hợp đã đủ 60 ngày mà muốn tiếp tục chuyển làm công việc khác so với hợp đồng thì phải được sự đồng ý của người lao động bằng văn bản, người lao động không đồng ý mà phải ngừng việc thì phải trả lương ngừng việc cho người lao động. 

- Trả lương theo công việc mới; nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương công việc cũ thì được giữ nguyên mức tiền lương cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% mức tiền lương công việc cũ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng. 

Công ty con điều chuyển lao động qua công ty mẹ trong trường hợp nêu trên thì quan hệ lao động vẫn tồn tại giữa công ty con và người lao động, thời gian chuyển bị giới hạn. Những chế độ liên quan đến người lao động vẫn do công ty con giải quyết. Trường hợp này cũng chỉ mang tính chất tạm thời.

2.Thỏa thuận điều chuyển người lao động qua nơi làm việc khác

Một trong những nội dung bắt buộc trong hợp đồng lao động theo quy định tại điều 23 BLLĐ là địa điểm làm việc. Trong các hợp đồng lao động thỏa thuận về địa điểm làm việc là tại 01 địa chỉ cụ thể hoặc theo sự sắp xếp của người sử dụng lao động hoặc có phụ lục hợp đồng bổ sung thỏa thuận này. Muốn điều chuyển lao động làm việc nơi khác so với Hợp đồng lao động phải đạt được sự đồng ý của người lao động. Người sử dụng lao động không đương nhiên có quyền điều chuyển người lao động đi làm việc nơi khác so với hợp đồng lao động. Như vậy, nếu không thuộc các trường hợp nêu tại điều 31 BLLĐ thì phải có thỏa thuận trong hợp đồng nhưng trường hợp này cũng là tạm thời, quan hệ lao động vẫn tồn tại giữa công ty con với người lao động.

3.Chuyển người lao động của công ty con qua ký hợp đồng lao động với công ty mẹ

Công ty con không được quyết định chuyển người lao động cho công ty mẹ để buộc người lao động phải ký hợp đồng lao động với công ty con. Bởi vì quan hệ giữa công ty con và người lao động được điều chỉnh bởi thỏa thuận giữa hai bên trong hợp đồng lao động. Trường hợp muốn thiết lập quan hệ lao động giữa công ty mẹ và người lao động thì quan hệ lao động giữa công ty con và người lao động phải chấm dứt. Trừ trường hợp công ty mẹ và công ty con đồng ý tồn tại song song 2 quan hệ lao động.

Việc chấm dứt hợp đồng tuân thủ theo quy định tại Điều 36 BLLĐ về các trường hợp chấm dứt Hợp đồng lao động. Sau đó đồng thời, người lao động ký hợp đồng lao động với công ty mẹ.

Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận chấm dứt hợp đồng, người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 37 BLLĐ: do không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động đối với hợp đồng mùa vụ hoặc xác định thời hạn; hoặc báo trước đủ thời gian đối với hợp đồng không xác định thời hạn.

Xin chào anh chị! Em xin có câu hỏi muốn anh chị giải đáp dùm em về luật đóng BHXH cho người lao động ạ. Công ty em làm việc là công ty cổ phần. Em vào làm thử việc từ ngày 14/07/2015 đến 15/10/2015 thì được kí hợp động dài hạn ( 3 năm )và phải nộp bằng gốc. Trong hợp đồng ghi rõ sẽ được đóng bảo hiểm nhưng đến nay ngày 14/10/2016 công ty vẫn không đóng bất kì 1 khoản bảo hiểm nào cho em. Thời gian 1 tháng nay em còn được điều sang làm ở một bộ phận khác làm không đúng với chuyên môn và như trong biên bản hợp đồng lao động. Em đã có ý kiến về làm tại vị trí cũ và đòi đóng bảo hiểm nhưng Chủ tịch HĐQT không chịu đóng. Ở công ty có rất nhiều người cũng không được đóng bảo hiểm giống em. Vậy giờ em có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và đòi bồi thường số tiền bảo hiểm mà cty không đóng cho em trong 1 năm qua không? Em phải làm gì? Vì em đọc trên luật chỉ thấy cty, doanh nghiệp bị phạt tiền nhưng không thấy người lao động được gì? Em cảm ơn anh chị!

Khoản 1 Điều 37 Bộ luât lao động 2012 có quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đông của người lao động như sau:

- Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

- Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

- Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

- Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

- Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

- Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

- Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

Theo như thông tin bạn cung cấp thì công ty không đóng bảo hiểm cho bạn như vậy bạn không thuộc một trong các trường hợp được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật. 

Trong trường hợp này công ty của bạn đã có hành vi thuộc vào những hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại Điều 17 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014. Vì thế mà hành vi của công ty mà bạn đang làm việc đã vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội. Để giải quyết việc này, theo Khoản 2 Điều 117 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định về trình tự giải quyết khiếu nại về bảo hiểm xã hội thì bạn có quyền khiếu nại về hành vi của công ty bạn theo trình tự sau:

2. Việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi về bảo hiểm xã hội không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì người khiếu nại có quyền lựa chọn một trong hai hình thức sau đây:

a) Khiếu nại lần đầu đến cơ quan, người đã ra quyết định hoặc người có hành vi vi phạm. Trường hợp cơ quan, người có quyết định, hành vi về bảo hiểm xã hội bị khiếu nại không còn tồn tại thì cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện có trách nhiệm giải quyết;

b) Khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp người khiếu nại được quy định tại điểm a khoản 2 Điều này không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án hoặc khiếu nại đến cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án.

4. Thời hiệu khiếu nại, thời hạn giải quyết khiếu nại được áp dụng theo quy định của pháp luật về khiếu nại.

Để bảo vệ quyền lợi của mình, bạn có thể làm đơn khiếu nại gửi đến Giám đốc công ty, tổ chức Công đoàn để người sử dụng lao động xem xét lại hành vi không nộp tiền bảo hiểm xã hội cho bạn. Hoặc bạn có thể khiếu nại lên Phòng Lao động – thương binh và xã hội cấp huyện nơi công ty đặt trụ sở. Trong trường hợp không giải quyết cho bạn hoặc giải quyết mà bạn không thấy thỏa đáng, bạn cũng có thể gửi đơn yêu cầu Tòa án cấp huyện nơi công ty đóng trụ sở yêu cầu Tòa giải quyết.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 122 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 , bạn sẽ được công ty bồi thường như sau:

“3. Người sử dụng lao động có hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 17 của Luật này từ 30 ngày trở lên thì ngoài việc phải đóng đủ số tiền chưa đóng, chậm đóng và bị xử lý theo quy định của pháp luật, còn phải nộp số tiền lãi bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng; nếu không thực hiện thì theo yêu cầu của người có thẩm quyền, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước có trách nhiệm trích từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động để nộp số tiền chưa đóng, chậm đóng và lãi của số tiền này vào tài khoản của cơ quan bảo hiểm xã hội”. 

Như vậy, ngoài việc công ty bạn đang làm việc phải đóng đủ số tiền bảo hiểm chưa đóng cho nhân viên, công ty bạn sẽ phải bồi thường cho bạn nếu gây thiệt hại về lợi ích và quyền lợi của bạn, công ty cũng sẽ phải chịu những hình thức xử lý khác theo quy định của pháp luật tùy thuộc và mức độ, tích chất của hành vi vi phạm này.

Quý luật sư cho e hỏi e kí hợp đồng lao động 1 năm,3 ngày đầu tiên đi làm (hđld1năm) e có việc gd nghỉ hsau e đi làm được 3 ngày e có cviệc gia đình nên e nghỉ ngang quá 5 ngày giờ công ty có gởi thông báo cho e lên công ty để giải quyết 1 số thủ tục gì đó nếu kò lên công tỳ sẽ gởi giấy về địa phương,giờ e rất boân khoăn không biết e có bị đền bù hợp đồng ko,mong các luật sư giúp e với ạ..e cảm ơn nhiều

Vì bạn ký hợp đồng lao động xác định thời hạn 1 năm, do vậy bạn chỉ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 37 Bộ luật lao động, bao gồm:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hợp trên, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Như vậy, trường hợp bạn muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn thì phải thuộc một trong các trường hợp nêu trên, đồng thời phải tuân thủ về thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động biết.

Trong trường hợp bạn không thuộc một trong các trường hợp có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nêu trên thì theo Điều 43 Bộ luật lao động:

"1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này".

Như vậy, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật (không thuộc một trong các trường hợp nêu tại Khoản 1 Điều 37 Bộ luật lao động) thì bạn sẽ không được trợ cấp thôi việc, đồng thời phải bồi thường nửa tháng tiền lương. Nếu bạn vi phạm thời hạn báo trước thì phải bồi thường khoản tiền tương ứng với tiền lương trong những ngày không báo trước. Đồng thời phải hoàn trả chi phí đào tạo (nếu có).

e nhờ tư vấn giúp e trường hợp này với e làm trợ lý giám đốc cho 1 công ty, trong công ty e có 1 nhân viên có thu tiền của khách hàng nhưng làm mất tiền gần 15 triệu. e cho bạn đó nghỉ việc và kêu bạn đó viết cam kết trả nợ trừ lương và e giữ chứng minh gốc giấy tờ xe gốc của bạn đó. nhưng đến nay đã gần 1 tháng mà bạn đó k trả tiền cho công ty. e nhờ luật sư tư vấn giúp e, e làm gì để lấy lại được tiền của bạn đó. e cảm ơn rất nhiều, công ty chưa ký hợp đồng lao động với bạn đó, và bạn đó là cho công ty gần 1 năm rồi 

Theo như thông tin bạn cung cấp thì bạn đó đã làm việc cho công ty gần 1 năm rồi nhưng công ty chưa ký hợp đồng lao động.

Việc công ty không ký HĐLĐ bằng văn bản là vi phạm quy định pháp luật và sẽ bị xử phạt theo Nghị định 95/2013/NĐ-CP:

Theo Khoản 1 Điều 5 Nghị định 95/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì người sử dụng lao động không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản đối với công việc cố định có thời hạn trên 3 tháng sẽ phải chịu một trong các mức sau đây:

a) Từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

….

đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

Nếu như công ty không tham gia BHXH cho người lao động bị xử phạt như sau:

Điều 26 Vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người lao động có hành vi thỏa thuận với người sử dụng lao động không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.

2. Phạt tiền với mức từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp;

b) Đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp không đúng mức quy định;

c) Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp không đủ số người thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.

3. Phạt tiền với mức từ 18% đến 20% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp cho toàn bộ người lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc truy nộp số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp chưa đóng, chậm đóng đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 3 Điều này;

b) Buộc đóng số tiền lãi của số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp chưa đóng, chậm đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ Quỹ bảo hiểm xã hội trong năm đối với vi phạm quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này.

Bên cạnh đó việc công ty cho người lao động nghỉ việc như thế là trái quy định của pháp luật lao động. Căn cứ vào quy định của BLLĐ 2012 về vấn đề chấm dứt hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động trong một số trường hợp nhất định. Cụ thể:

Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Mặc dù người lao động chưa ký kết hợp đồng lao động nhưng đã được nhận vào làm việc và giao nhiệm vụ liên quan đến tiền bạc thì nay đã làm mất tiền của công ty, nếu công ty có đầy đủ cơ sở xác định trách nhiệm này thuộc bề người làm mất tiền và người lao động cũng ko có cơ sở chứng minh vô can thì rõ ràng là phải chịu trách nhiệm bồi hoàn cho công ty. Công ty có thể yêu cầu người lao động thực hiện trách nhiệm bồi hoàn, khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết hoặc có văn bản yêu cầu cơ quan công an điều tra làm rõ để xử lý theo quy định nếu có dấu hiệu hình sự. Bạn có thể thỏa thuận lại với người lao động để đạt được mục đích như mình mong muốn.

Chào luật Minh Khuê. E có một vấn đề ve xuất khẩu muốn nhờ anh chị tư vấn giúp . Là e có đăng ký đi xuất khẩu lao động tại Sở Lao Động TB&XH. Và được sở lao động và bên công ty xuất khẩu hứa là sẽ đưa e đi trong vòng 3 đến 6 tháng là e có visa và đi. Nhưng đến hôm nay là gần 9 tháng rồi e k đi đk. Nhưng lúc e đi vậy e nộp tiền vào công ty và mà không có hợp đồng giữ e với công ty về vấn đề gì về nếu thời gian đó k đi đk thì cty bồi thường tiền hay hoàn lại 100% mà k trừ lại chi phí ở với học để đi. Jo e muốn rút tiền Vì cty k đưa đk e đi. Vậy anh chị tư vấn giúp e là có điều khoản nào nói về vấn đè này không ạ. Và e rút thì có bị trừ chi phí hì k ạ. E cảm ơn!

Theo quy định tại Điểm c Tiểu mục 1 Mục 5 Thông tư số 21/2007/TT-BLĐTBXH hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2006 và Nghị định số 126/2007/NĐ-CP nquy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì:

 “Doanh nghiệp dịch vụ phải cam kết với người lao động về thời gian chờ xuất cảnh sau khi người lao động trúng tuyển đi làm việc ở nước ngoài.

Trong thời gian doanh nghiệp dịch vụ đã cam kết, nếu người lao động không có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài nữa thì doanh nghiệp dịch vụ phải trả lại hồ sơ cho người lao động và người lao động phải chịu các khoản chi phí mà doanh nghiệp dịch vụ đã chi (nếu có) để làm thủ tục cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài, gồm: chi phí làm hồ sơ, khám sức khỏe, học phí bồi dưỡng kiến thức cần thiết, chi phí tài liệu học tập, ăn, ở trong thời gian đào tạo bồi dưỡng kiến thức cần thiết, chi phí làm thủ tục nhập cảnh (visa)” .

Như vậy, khi bạn không còn ý định muốn đi xuất khẩu lao động, bạn có thể yêu cầu rút hồ sơ và các giấy tờ đã giao cho công ty là hoàn toàn hợp pháp cũng như khoản tiền bạn đã nộp cho công ty sau khi trừ đi các khoản chi phí mà công ty đã chi trả như chi phí làm hồ sơ, khám sức khỏe, học phí bồi dưỡng kiến thức cần thiết, chi phí tài liệu học tập, ăn, ở trong thời gian đào tạo bồi dưỡng kiến thức cần thiết, chi phí làm thủ tục nhập cảnh (visa).

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn, giải đáp thắc mắc pháp lý về tiền lương ?

Ngoài ra, Thông tư 21/2007/TT-BLĐTBXH cũng quy định: “Doanh nghiệp dịch vụ chỉ được thu tiền dịch vụ và tiền môi giới của người lao động sau khi ký Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với người lao động và người lao động được phía nước ngoài chấp nhận vào làm việc hoặc cấp thị thực nhập cảnh (visa).” Như vậy, doanh nghiệp chỉ được thu tiền môi giới của người lao đồng sau khi ký hợp đồng lao động.

Mặt khác, Điều 20 Bộ luật lao động 2012 quy định những hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động:

- Giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.

- Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.

Do đó, việc công ty môi giới yêu cầu bạn bảo đảm thực hiện hợp đồng lao động bằng khoản tiền 3.000 USD là trái quy định pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của bạn.

Nếu công ty môi giới không trả lại giấy tờ và tiền cho bạn thì bạn có quyền làm đơn khiếu nại gửi đến người giải quyết khiếu nại lần đầu đó là người đứng đầu tổ chức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Nếu người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại hoặc là quá hạn mà vẫn không được giải quyết thì bạn khiếu nại đến Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai. Hoặc bạn có thể kiện ra Tòa án để được giải quyết theo thủ tục tố tụng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn Luật Lao động - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Chế độ lương khi làm việc trong ngày nghỉ lễ

>> Xem thêm:  Người sử dụng lao động không chịu trả lương giải quyết thế nào ?