1. Cơ sở của nguyên tắc

Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyết tật (NKT) liên quan mật thiết đến khái niệm nhân phẩm, xuất phát từ quan điểm cho rằng tất cả mọi người dù có sự khác nhau về thể lực, trí lực và các đặc điểm khác, đều có giá trị và tầm quan trọng ngang nhau: “Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi con người đều được tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau trong tình bằng hữu”. (Điều 1 Tuyên ngôn toàn thế giới cả Liên hợp quốc về nhân quyền năm 1948) và “Tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng hoặc giới tính đều có quyền được mưu cầu một cuộc sống vật chất đầy đủ, được phát triển tinh thần trong điều kiện tự do và đảm bảo nhân phẩm, trong điều kiện an ninh kinh tế và cơ hội bình đẳng” (Tuyên bố của Tổ chức lao động thế giới tại Philadenphia năm 1944). Công ước về quyền của NKT năm 2006 (CRPD) cũng đã ghi nhận nguyên tắc này tại Điều 5: “1. Các quốc gia thành viên công nhận tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, tuân theo pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ, được hưởng lợi từ pháp luật một cách bình đẳng mà không bị phân biệt đối xử; 2. Các quốc gia thành viên phải ngăn cấm mọi sự phân biệt đối xử do bị khuyết tật và đảm bảo tất cả mọi người khuyết tật được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng và hiệu của chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử”.

2. Nội dung nguyên tắc

2.1 Nguyên tắc bình đẳng

Nguyên tắc bình đẳng được hiểu là sự ngang nhau trong việc tiếp cận các cơ hội về học tập, việc làm; chăm sóc sức khỏe, dịch vụ công,… của NKT trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Dưới góc độ quyền con người, Văn phòng Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) phân quyền bình đẳng được thành ba cấp độ:

- Bình đẳng trên danh nghĩa: Theo quan điểm chính thống về sự bình đẳng, những người ở trong hoàn cảnh như nhau cần được đối xử giống nhau mà không tính đến sự khác biệt, bất lợi của từng cá nhân và của hoàn cảnh. Trong khi không cho phép đối xử người này hơn hoặc kém người kia, người ta cũng không đặt ra về quy định phải có những điều chỉnh và cải thiện cần thiết. Do vậy quan điểm này không phù hợp khi phải đáp ứng nhu cầu của một số NKT.

- Bình đẳng về cơ hội: Khái niệm này quy định về sự bình đẳng trong cơ hội chứ không nhất thiết phải bình đẳng về kết quả. Cách nhìn này thừa nhận vai trò quan trọng của những khác biệt của cá nhân và tập thể đồng thời nhận diện những rào cản bên ngoài xã hội mà NKT gặp phải. Theo cách nhìn này, tình trạng KT không phải là vấn đề quan trọng mà chính những định kiến mới là cơ sở để giải quyết vấn đề và nhất thiết phải tính đến những định kiến này nếu muốn tạo ra những thay đổi cho môi trường xã hội để NKT có thể tiếp cận và hòa nhập.

- Bình đẳng về kết quả: là sự bảo đảm các kết quả là như nhau đối với tất cả mọi người. Nếu nhìn nhận sự bình đẳng theo góc độ này, sự khác biệt giữa các cá nhân và các nhóm đối tượng sẽ được thừa nhận. Ví dụ, phải tính đến các chi phí thêm mà người lao động khuyết tật phải chi trả trong khi xem xét việc họ có nhận được tiền lương bằng mọi người hay không. Khái niệm này có một số nhược điểm. Nó không chỉ rõ trách nhiệm đáp ứng các nhu cầu của người khuyết tật nhằm đảm bảo sự bình đẳng thực sự về kết quả thuộc về ai - Nhà nước, khu vực tư nhân hoặc cá nhân nào đó. Ngoài ra, còn một điểm không rõ trong cách nhìn nhận này là người ta có thực sự hiểu rõ giá trị của một cá nhân hay không khi tìm cách để chứng minh rằng anh ta đã không làm ra được kết quả như những người khác.

Trong thực tế, khái niệm bình đẳng về cơ hội được sử dụng nhiều nhất trong văn bản pháp luật ở các quốc gia. Việt Nam cũng là quốc gia đi theo nguyên tắc này trong khi CRPD hướng tới bình đẳng về kết quả. Nguyên tắc bình đằng không có nghĩa là bằng nhau hoặc như nhau, không có nghĩa NKT phải được hưởng các quyền và thực hiện nghĩa vụ giống tuyệt đối so với những người bình thường mới là bình đẳng. Ví dụ: Theo quy định tại Điều 160 BLLĐ 2019 (có hiệu lực từ 01/01/2021) của Việt Nam thì cấm “sử dụng người lao động là người khuyết tật nhẹ suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên, khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, trừ trường hợp người lao động là người khuyết tật đồng ý” và “sử dụng người lao động là người khuyết tật làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành mà không có sự đồng ý của người khuyết tật sau khi đã được người sử dụng lao động cung cấp đầy đủ thông tin về công việc đó”. Quy định như vậy nhằm tạo điều kiện để NKT vẫn được tham gia quan hệ lao động như những người bình thường khác mà vẫn được đảm bảo về sức khỏe, thể chất. Trước đây tại Điều 178 BLLĐ 2012 chỉ quy định cấm NSDLĐ không được thực hiện các hành vi trên mà không có ngoại lệ, điều này được đánh giá là không hợp lý, không thể hiện trọn vẹn nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với NKT vì bản chất của việc ra quy định cấm không phải hạn chế sự tiếp cận cơ hội việc làm từ bất cứ cá nhân nào, nếu cá nhân đó dù là NKT nhưng đáp ứng được điều kiện mà công việc đưa ra thì họ phải hoàn toàn có quyền được làm cho dù đó có là công việc nặng nhọc, độc hại đi chăng nữa. BLLĐ 2019 tại Điều 178 dành ngoại lệ cho trường hợp có sự đồng ý của NLĐ đã khắc phục được hạn chế này.

2.2. Nguyên tắc không phân biệt đối xử

Để xác định một hành vi có phải phân biệt đối xử hay không sẽ tùy thuộc vào các tiêu chí xác định mang tính pháp lí được cơ quan có thẩm quyền quy định. Các hành vi phân biệt đối xử theo thông lệ quốc tế bao gồm:

.- Phân biệt đối xử trực tiếp: xảy ra khi có những quy định của pháp luật hoặc hoạt động thực tiễn rõ ràng gạt bỏ cơ hội tham gia của NKT. Ví dụ: Một doanh nghiệp quảng cáo cho một vị trí đang trống và thông báo trên bảng quảng cáo là “không tuyển người mù”.

- Phân biệt đối xử gián tiếp: không lộ liễu, không có quy định cấm đối với NKT nhưng cuối cùng có chung hậu quả, đó là NKT bị đứng ngoài cuộc. Ví dụ: Quy định về hoạt động tín dụng ngân hàng không cấm NKT mở tài khoản nhưng NKT không thể mở tài khoản ngân hàng, do họ không thể kí vào các văn bản liên quan cũng như không thể làm dấu tay lên thẻ.

- Gây phiền nhiễu: là khi xảy ra hành vi xâm phạm nhân phẩm, tạo ra không khí đe dọa, thù địch, gây tiếng xấu cho một người. Chẳng hạn như dùng sức mạnh hoặc quyền lực để bắt nạt đồng nghiệp là NKT nơi làm việc.

- Chỉ đạo và khuyến khích phân biệt đối xử: Ví dụ như kêu gọi mọi người có hành vi ghét bỏ, tẩy chay NKT.

Điểm cốt lõi của nguyên tắc không phân biệt đối xử là xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng trong đối xử, sẽ bị coi là hành vi vi phạm khi sự phân biệt có mục tiêu và không được lý giải một cách hợp lý. Tuy nhiên việc ngăn cấm phân biệt đối xử không có nghĩa là quy cho mọi hình thức phân biệt là trái pháp luật. Ví dụ: Trong quan hệ lao động, NSDLĐ có quyền yêu cầu NLĐ phải có những kĩ năng và trình độ cần thiết mà công việc đòi hỏi những yêu cầu này là chính đáng nên dẫn đến khả năng loại trừ một số NKT ra khỏi danh sách tham gia làm việc. Chẳng hạn: Để tuyển chọn phi công, hãng hàng không Vietnam Airline đặc biệt chú trọng đến những tiêu chuẩn về hình thức, sức khỏe, chiều cao, phản xạ dẫn đến NKT (khiếm thính, khiếm thị) không được vào làm việc. Những yêu cầu trong trường hợp này là hợp pháp và đúng mức, do vậy nó đơn thuần chỉ là yêu cầu mang tính nghề nghiệp mà không bị coi là phân biệt đối xử.

3. Sự thể hiện của nguyên tắc trong pháp luật

Trước hết nếu như CRPD nêu lên khái niệm NKT thể hiện sự kết hợp giữa đặc điểm khuyết khuyết về y học của một người với những rào cản khác nhau do xã hội tạo ra trong việc xác định tình trạng KT thì khái niệm NKT mà Luật NKT 2010 của Việt Nam đề cập đến lại coi những khiếm khuyết về mặt y học của NKT là nguyên nhân chính gây nên những khó khăn chính cho họ trong cuộc sống. Do vậy những chính sách pháp luật về NKT mà Việt Nam đưa ra sẽ hướng tới bình đẳng về cơ hội còn mục tiêu bình đẳng về kết quả có thực hiện được hay không còn phụ thuộc vào sự cụ thể hóa trong các văn bản dưới luật và sự thực hiện trên thực tiễn.

Trong Luật NKT 2010 không có điều luật nào quy định cụ thể nội dung của nguyên tắc trên nhưng có những điều luật hướng tới việc thực hiện nguyên tắc, cụ thể Điều 4 đảm bảo NKT được bình đẳng tiếp cận, thực hiện một loạt các quyền, các quyền này cũng được cụ thể hóa trong các văn bản luật và dưới luật; ngoài ra Điều 14 còn cấm các hành vi phân biệt đối xử với NKT. Với mỗi khía cạnh quyền các yếu tố thực tiễn sẽ được lồng ghép để đánh giá tính hiệu quả khi thực hiện nguyên tắc này trong đời sống thực tế.

3.1. Quyền được tiếp cận các hoạt động xã hội của người khuyết tật

3.1.1. Đối với hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí, du lịch.

Nhằm tạo điều kiện cho NKT bình đẳng tham gia vào các hoạt động này, bên cạnh quy định trách nhiệm của nhà nước và xã hội trong việc tạo điều kiện để NKT được hưởng thụ văn hóa, TDTT, giải trí và du lịch; tạo điều kiện để họ phát triển năng khiếu về văn hóa, nghệ thuật và TT hoặc tham gia sáng tác, biểu diễn nghệ thuật, luyện tập và thi đấu TT với các cách thức tổ chức đa dạng (Điều 36, 37 Luật NKT) thì NKT đặc biệt nặng còn được miễn giá vé, giá dịch vụ khi trực tiếp sử dụng dịch vụ tại các cơ sở văn hóa, TT, giải trí và du lịch của Nhà nước (Điều 11 Nghị định 28/2012/NĐ-CP). Ngoài ra theo Luật TDTT 2006 sửa đổi, bổ sung 2018 và Nghị định 36/2019/NĐ-CP quy định chi tiết luật này thì các VĐV có thành tích cao được chăm sóc sức khỏe, chữa trị chấn thương tại cơ sở y tế trong nước và nước ngoài, được hưởng chế độ dinh dưỡng đặc thù; được ưu tiên tuyển thẳng vào các ngành TDTT; được ưu đãi học nghề và giải quyết việc làm theo Nghị định 61/2015/NĐ-CP liên quan đến chính sách hỗ trợ việc làm và Quỹ Quốc gia về việc làm; có chế độ tiền lương, tiền hỗ trợ tập huấn, thi đấu, tiền bảo hiểm theo Nghị định số 152/2018/NĐ-CP quy định một số chế độ đối với HLV, VĐV thể thao trong thời gian tập trung tập huấn, thi đấu.

Không thể phủ nhận rằng những năm gần đây phong trào TDTT của NKT đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Năm 2018, thể thao NKT Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao tại Đại hội thể thao NKT Châu Á khi xếp thứ 12 về thành tích toàn đoàn trong 45 đoàn của các nước và vùng lãnh thổ tham dự. Chỉ với 56 VĐV dự tranh tài ở 7/18 môn thi đấu mà họ giành được 8 HCV, 8 HCB và 24 HCĐ. Các hội thi thể thao được tổ chức nhiều hơn tạo cơ hội cho NKT được hòa nhập, phát huy khả năng của bản thân như: Hội thi thể thao NKT toàn quốc, Chương trình kỷ niệm ngày NKT Việt Nam.... Nhiều CLB được tổ chức ra cho trẻ em KT, tại đây các em được chia sẻ những khó khăn, được truyền cảm hứng để mạnh dạn theo đuổi ước mơ của bản thân như CLB Văn nghệ trẻ em KT Hà Nội, CLB KT của Trung tâm CTXH thành phố Hải Phòng,… Năm 2014, Hội Bảo trợ NKT và trẻ mồ côi Việt Nam tổ chức thành công Hội thi tiếng hát NKT lần thứ nhất, năm 2019, Hội tiếp tục tổ chức Hội thi tiếng hát NKT lần thứ II với chủ đề “Những trái tim khát vọng” nhằm khuyến khích NKT tự tin thể hiện tài năng của mình. Tuy nhiên cơ sở vật chất để NKT được tiếp cận các hoạt động xã hội không đủ so với nhu cầu. Các trung tâm dành riêng cho NKT chưa được đầu tư xây dựng, kinh phí dành cho việc tập luyện của các VĐV eo hẹp. Về du lịch, nhiều hãng hàng không không mặn mà với những khách là NKT do cơ sở hạ tầng của nước ta phần lớn chưa đáp ứng nhu cầu của họ. Việc làm các thủ tục check-in của du khách ngày nay có thể thao tác dễ dàng, nhanh chóng thông qua vài cú chạm trên internet nhưng phương án nào cho NKT để có thể tiếp cận với những tiện ích công nghệ mới mẻ ấy. So với lượng NKT ở Việt Nam thì các chương trình giải trí hay sân chơi cho NKT chưa nhiều; đa số sân chơi, bãi tập đều được thiết kế theo tiêu chuẩn dành cho người bình thường nên NKT rất khó thích nghi; thời gian đầu mới tiếp cận, họ còn vấp phải sự phân biệt của một số người.

3.1.2. Đối với việc tiếp cận nhà chung cư, công trình công công; giao thông

Đối với việc tiếp cận nhà chung cư, công trình công cộng: Một trong các nguyên tắc cơ bản của hoạt động xây dựng là bảo đảm nhu cầu tiếp cận sử dụng công trình thuận lợi, an toàn cho NKT (khoản 3 Điều 4 Luật Xây dựng 2014). Bộ Xây dựng đã ban hành một loạt các văn bản pháp lý làm cơ sở như QCXDVN số 10:2014; TCXDVN 264:2002 về nhà ở và công trình; TCXDVN 265:2002 cho đường và hè phố; TCXDVN 266:2002 về nhà ở quy định yêu cầu đối với đường vào, lối vào công trình; cửa ra vào, hành lang, lối đi, cầu thang, thang máy, khu vệ sinh; bãi để xe; các phòng, buồng trong các khách sạn, nhà nghỉ... để đảm bảo NKT với các dạng tật khác nhau đều có thể tiếp cận sử dụng. Để các quy định trên được thực hiện, pháp luật còn đặt ra những biện pháp như quy định việc xây dựng công trình không đảm bảo quy chuẩn, tiêu chuẩn là hành vi bị cấm (Điều 12 Luật Xây dựng); các chủ thể có quyền khiếu nại, tố cáo những hành vi vi phạm (khoản 1 Điều 106 Luật Xây dựng);…

Đối với việc tham gia giao thông: Thứ nhất về phương tiện giao thông, nếu NKT đi bộ thì đường bộ, ngoài việc hè phố phải đảm bảo tiêu chuẩn xây dựng thì Luật giao thông đường bộ 2008 còn quy định trách nhiệm của những người tham gia giao thông phải giúp đỡ NKT qua đường (Điều 33); quan sát, giảm tốc độ nhường đường cho NKT (khoản 4 Điều 11). NKT được sử dụng phương tiện cá nhân đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và phù hợp với điều kiện sức khỏe để tham gia giao thông (Khoản 1 Điều 41 Luật NKT). Loại phương tiện nào đòi hỏi phải có giấy phép thì họ được học và cấp giấy phép khi đáp ứng các điều kiện về sức khỏe theo Thông tư liên tịch số 24/2015/TTLT-BYT-BGTVT về khám sức khỏe cho người lái xe. Các phương tiện giao thông công cộng cũng phải có thiết kế đáp ứng quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về giao thông tiếp cận, phải có chỗ ưu tiên cho NKT, có công cụ hỗ trợ lên, xuống thuận tiện hoặc sự trợ giúp phù hợp với đặc điểm của NKT (các khoản 1, 2 Điều 42 Luật NKT). NKT đặc biệt nặng và NKT nặng được miễn, giảm giá vé, giá dịch vụ khi tham gia giao thông theo quy định của Chính phủ (các khoản 3, 4 Điều 41 Luật NKT). Thứ hai, về cơ sở hạ tầng trong giao thông: được đảm bảo như tại vị trí các điểm dừng, nhà chờ phục vụ người sử dụng xe lăn phải xây dựng lối lên xuống thuận tiện; vị trí dành riêng cho NKT có biển báo, tín hiệu để NKT nhận biết, sử dụng; khu vực ngồi chờ phải bố trí chỗ cho NKT (khoản 1 Điều 3 Thông tư số 39/2012/TT-BGTVT). Thứ ba, về trách nhiệm của các chủ thể đối với NKT trong giao thông: Lái xe và nhân viên bán vé trên xe buýt phải giúp NKT trong quá trình lên xuống xe, thậm chí khách đi xe buýt cũng có trách nhiệm giúp đỡ và nhường ghế cho NKT (Điều 17, 18 Quyết định số 34/2006/QĐ-BGTVT về quản lý vận tải khách công cộng bằng xe buýt). Đối với các hãng hàng không, hành khách là NKT phải được quan tâm chăm sóc trong quá trình vận chuyển (khoản 2 Điều 145 Luật hàng không dân dụng 2006 sửa đổi, bổ sung 2014). Để đảm bảo cho các quy định được thi hành trên thực tế Nghị định 100/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, quy định phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy chuyển hướng không nhường đường cho NKT (Điều 6); phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng nếu nhân viên phục vụ trên xe buýt không giúp đỡ NKT (khoản 1 Điều 31);…

Trong cuộc sống, có những thay đổi tích cực từ yếu tố rất nhỏ như chuyển thiết kế vòi nước từ van vặn xoay sang cần gạt đóng mở vì lợi ích của những người không có bàn tay thì phần nhiều quyền tiếp cận cơ sở hạ tầng vẫn chỉ mang tính hình thức. Hầu như các loại xe buýt tuyến cố định và tàu hỏa không có thiết kế cửa lên xuống cho NKT; thái độ nhân viên thiếu tôn trọng; hệ thống loa phát báo điểm dừng không khớp với lộ trình thực; xe buýt BRT mặc dù có chỗ ngồi cho NKT nhưng cầu đi bộ nối với nhà chờ xe buýt có độ dốc quá cao; loại hình Taxi dành cho NKT chưa phổ biến (hiện nay ở Hà Nội chỉ có Taxi Thành Công triển khai). Không phải hãng hàng không nào cũng có dịch vụ hỗ trợ xe lăn cho NKT (chỉ Vietnam Airline và Vietjet Air là có dịch vụ này). Ngoài ra đường phố gồ ghề, không bằng phẳng; vỉa hè cao hơn so với mặt đường nhưng không có đường dốc cho xe lăn; các phòng vệ sinh công cộng chật chội với thiết kế các vật dụng xung quanh không vừa tầm với, không có tay vịn. Ở những không gian công cộng khác như nhà hát, rạp chiếu phim, nơi biểu diễn hòa nhạc,… hiếm có không gian cho người đi xe lăn. Bên cạnh đó việc quy định lộ trình cải tạo cơ sở hạ tầng đến năm 2025 tại Điều 40 Luật NKT là quá dài.

3.2. Quyền được bảo trợ xã hội

Theo Luật NKT, NKT là trẻ em, người cao tuổi sẽ được hưởng mức trợ cấp cao hơn các đối tượng khác cùng mức độ KT. Những NKT đặc biệt nặng, không có nơi nương tựa, không tự lo được cuộc sống tại cộng đồng được tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội (Điều 45). Chế độ trợ cấp của Nhà nước với NKT, trách nhiệm của các cơ sở chăm sóc NKT cũng được quy định rất rõ ràng, cụ thể. Các quy định này rất hợp lý khi đảm bảo chế độ bảo trợ với NKT nặng và đặc biệt nặng còn với NKT nhẹ, vẫn còn khả năng lao động thì họ không được trợ cấp mà được ưu tiên trong các quan hệ xã hội khác. Điều đó phù hợp với thực tiễn và khả năng chi trả của ngân sách nhà nước. Tuy nhiên thủ tục xét hưởng trên thực tế còn rườm rà, mất thời gian. Các số liệu thống kê về việc thực hiện chế độ này chưa đầy đủ, thiếu chi tiết khiến việc đánh giá tính hiệu quả khó khăn.

3.3. Quyền được chăm sóc y tế và phục hồi chức năng

Khung pháp lý cho việc chăm sóc y tế và phục hồi chức năng của NKT khá đầy đủ, ngoài việc ghi nhận trong Hiến pháp quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe bình đẳng như những thành viên khác trong xã hội (Điều 38) thì Luật NKT quy định NKT được quyền được khám bệnh, chữa bệnh, sử dụng các dịch vụ y tế phù hợp, được hưởng chính sách bảo hiểm (Điều 22); NKT đặc biệt nặng, nặng, trẻ em KT, người cao tuổi KT, phụ nữ KT có thai được ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh (Điều 23); tương ứng với đó là trách nhiệm của cơ sở y tế trong việc thực hiện, ưu tiên, tư vấn khám, chữa bệnh (Điều 23). Thời gian qua Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ như cấp thẻ BHYT cho NKT thuộc hộ nghèo; thực hiện phục hồi chức năng, cấp phát miễn phí dụng cụ chỉnh hình cho NKT; cung cấp xe lăn, xe đẩy, chân giả cho hàng trăm trẻ em KT nhưng hạn chế là NKT vẫn khó khăn khi tiếp cận các dịch vụ y tế nhất là NKT ở vùng sâu, vùng xa. Mặc dù hầu hết các xã đã có trạm y tế nhưng trang thiết bị chuyên môn thô sơ, nghèo nàn; chất lượng đội ngũ y bác sĩ chưa cao. Ví dụ, đến trạm y tế mà không có đường dành riêng cho xe lăn hay các bạn khiếm thính đã không nghe được thì không nói được nên khi đi khám, họ khó trao đổi với bác sĩ về tình trạng bệnh của mình. PGS.TS Lương Ngọc Khuê - Cục trưởng Cục Quản lý Khám chữa bệnh (Bộ Y tế) cũng cho biết, đến nay vẫn còn gần 50% NKT (hơn 3 triệu người) phải tự mua BHYT và phải đồng chi trả phí dịch vụ khám chữa bệnh. Đặc biệt, các dịch vụ về dụng cụ trợ giúp cơ bản, thiết yếu trong vận động, phục hồi chức năng rất cần đối với NKT như chi giả, mắt giả, máy trợ thính,.. nhưng lại chưa được BHYT chi trả trong khi phần lớn NKT thuộc diện hoàn cảnh khó khăn. NKT còn cảm thấy khó khăn với thủ tục chuyển tuyến phức tạp của BHYT. Hiện nay cũng thiếu đi nhiều hoạt động truyền thông chăm sóc sức khỏe cho NKT.

3.4. Quyền được giáo dục

Theo quy định của pháp luật, NKT được nhập học ở độ tuổi cao hơn so với độ tuổi quy định đối với giáo dục phổ thông; được miễn, giảm một số môn học hoặc nội dung và hoạt động giáo dục mà khả năng của cá nhân không thể đáp ứng; được miễn, giảm học phí, chi phí đào tạo; được xét cấp học bổng, hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập. NKT cũng được cung cấp phương tiện, tài liệu hỗ trợ học tập dành riêng trong trường hợp cần thiết như ngôn ngữ kí hiệu, chữ nổi Braille (Điều 27 Luật NKT và Thông tư liên tịch số 42/2013/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH-BTC). NKT được lựa chọn và tiếp cận với một trong ba phương thức giáo dục là giáo dục hòa nhập, giáo dục bán hòa nhập, giáo dục chuyên biệt (Điều 28 Luật NKT) trong đó giáo dục hòa nhập là phương thức được Nhà nước khuyến khích hơn cả. Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục tham gia giáo dục NKT, nhân viên hỗ trợ giáo dục NKT được hưởng các chế độ ưu đãi theo quy định của Chính phủ (Điều 7 Nghị định 28/2012/NĐ-CP).

Trên thực tế, nhiều trường học vẫn chưa được hỗ trợ kinh phí, cải tạo lại điều kiện vật chất của trường; sự hỗ trợ từ dụng cụ dạy học phù hợp với trẻ KT chưa có nên giáo viên càng thêm khó khăn. Theo quy định Luật NKT thì NKT được tham gia vào hệ thống giáo dục từ mầm non, tiểu học cho đến cấp cao nhất nhưng công tác giáo dục hòa nhập cho NKT trong thực tiễn mới chỉ tập trung nhiều ở bậc mầm non, tiểu học; ở đó trẻ được học tập, đánh giá theo năng lực phát triển của bản thân, các giáo viên tự xây dựng nên những giáo án phù hợp với đặc điểm của từng trẻ còn bậc giáo dục từ cấp THCS trở lên thì chưa được quan tâm chặt chẽ như vậy, nhiều trẻ KT khi lên cấp 2 không đáp ứng được yêu cầu của bậc học nên nghỉ ở nhà, chuyển sang học nghề hoặc làm công việc tay chân phụ giúp gia đình. Tại các cơ sở giáo dục hòa nhập cộng đồng, trẻ chủ yếu được quan tâm về phục hồi chức năng về vật lý trị liệu còn phục hồi về sinh hoạt và học tập thì nhiều hạn chế; sự kỳ thị của cộng đồng đâu đó vẫn còn tồn tại thậm chí là sự kỳ thị đến từ chính gia đình NKT nên nhiều phụ huynh không cho các em KT đi học.

3.5. Quyền được dạy nghề và tiếp cận việc làm

Về vấn đề việc làm, khi NKT làm việc theo hợp đồng lao động, Nhà nước có chính sách khuyến khích và ưu đãi NSDLĐ tạo việc làm và nhận lao động là NKT vào làm việc (Điều 158 BLLĐ 2019) và cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được đặt ra các điều kiện tuyển dụng không phù hợp nhằm loại bỏ NKT (Khoản 2 Điều 33 Luật NKT). Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng tử 30% tổng số lao động trở lên là NKT được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho NKT; miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (Điều 34 Luật NKT). Để đảm bảo chính sách này khả thi Quỹ việc làm cho NKT được thành lập ở từng địa phương để giúp NLĐ phục hồi chức năng và tạo việc làm. Những cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho NKT được Nhà nước hỗ trợ triệt để trong việc cung cấp cơ sở vật chất ban đầu, miễn thuế vay vốn với lãi suất thấp. Ngoài ra doanh nghiệp từ chối tuyển dụng NKT có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng cao hơn để hạn chế cơ hội tiếp cận việc làm của NKT có thể bị xử phạt từ 5 đến 10 triệu đồng (Khoản 2 Điều 7 Nghị định 28/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.). Khi NKT tự tạo việc làm, họ được tham gia vào các khóa đào tạo nghề ngắn hạn; được hỗ trợ học nghề dựa trên định mức kinh phí đào tạo và thời gian đào tạo thực tế. Cơ sở dạy nghề có trách nhiệm cấp văn bằng, chứng chỉ, công nhận nghề đào tạo khi người khuyết tật học hết chương trình đào tạo và đủ điều kiện theo quy định của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề (Điều 32 Luật NKT). NKT tự tạo việc làm cũng được hỗ trợ vay vốn với lãi suất ưu đãi theo quy định tại khoản 6 Điều 33 Luật NKT khi đáp ứng điều kiện tại Khoản 2 Điều 13 Luật Việc làm 2013, được cung cấp thông tin về dạy nghề, việc làm (khoản 5 Điều 33 Luật NKT)

Mặc dù có hệ thống chính sách hỗ trợ nhưng kết quả dạy nghề và giải quyết việc làm cho NKT những năm qua còn khiêm tốn. Sau bảy năm thực hiện công tác dạy nghề cho người khuyết tật theo Đề án 1019 (giai đoạn 2013 - 2019), đã có 15.545 người khuyết tật (NKT) được học nghề tuy nhiên tính ổn định, bền vững của việc làm thấp. Bởi lẽ việc đào tạo nghề chủ yếu gắn với đặc điểm dạng tật với các nghề thủ công, gia công, thu nhập thấp, chỉ dao động từ 1 - 3 triệu đồng/tháng thay vì lựa chọn nghề đào tạo theo nhu cầu của thị trường; nhiều NKT đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa chưa biết đến chính sách hỗ trợ của Nhà nước; trình độ học vấn của NKT nhìn chung còn thấp và không đều. Ngoài ra, trách nhiệm miễn giảm học phí học nghề của các cơ sở dạy nghề tư thục và các cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài vẫn đang bị luật bỏ ngỏ. Vì luật khuyến khích doanh nghiệp nhận NKT vào làm việc chứ không bắt buộc nên số doanh nghiệp có từ 30% lao động là NKT để được hưởng ưu đãi của Nhà nước không nhiều; trên thực tế cũng rất ít doanh nghiệp làm thủ tục để hưởng ưu đãi. Trên thực tế việc hỗ trợ vay vốn ưu đãi cho NKT sẽ được thực hiện thông qua các thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như Hội Nông dân, Hội phụ nữ,.. mà không phải là Hội NKT nên nếu NKT có nhu cầu vay vốn họ cần phải tham gia vào các đoàn thể này mặc dù điều đó không thực sự cần thiết. Một trong những điều kiện để được vay vốn mà Điều 13 Luật Việc làm quy định là có sự xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của địa phương nơi thực hiện việc sản xuất, kinh doanh nhưng lại không quy định các tiêu chí nào để đánh giá xem dự án đó của NKT có được xác nhận hay không mà chủ yếu dựa vào sự cảm tính của chính người tiếp nhận văn bản. Chính vì lẽ đó sẽ không thể tránh khỏi những trường hợp thiếu ngay tình và công bằng.

4. Một số kiến nghị và giải pháp

Nhìn chung khung pháp lý mà Nhà nước thiết lập nên nhằm đảm bảo nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử đối với NKT khá đầy đủ và hoàn thiện mặc dù còn nhiều quy định chưa thực sự chặt chẽ. Trước hết cần sửa khái niệm NKT sao cho phù hợp với cách tiếp cận của CRPD. Ngoài ra, ở Điều 14 có liệt kê một loạt các hành vi bị cấm trong đó trong đó hành vi kỳ thị được giải thích là thái độ khinh thường hoặc thiếu tôn trọng người khuyết tật vì lý do khuyết tật của người đó và phân biệt đối xử NKT là hành vi xa lánh, từ chối, ngược đãi, phỉ báng, có thành kiến hoặc hạn chế quyền của NKT vì lý do khuyết tật của người đó (khoản 2, 3 Điều 2). Việc giải thích dựa trên cơ sở các từ ngữ ấy cộng với việc không quy định trách nhiệm phải chứng minh mình không phân biệt đối xử của người thực hiện hành vi nên thực tế rất khó trong việc xác định xem hành vi đó có thực sự vi phạm hay không để xử phạt. Do đó phân biệt đối xử nên được cụ thể bằng những hành vi cụ thể, trong từng lĩnh vực cụ thể như Luật về NKT của Philippines chia ra làm nhiều lĩnh vực gồm lao động, việc làm, giao thông, trong sử dụng dịch vụ và phương tiện công cộng hay Australia có hẳn một Đạo luật quy định về vấn đề phân biệt đối xử đối với NKT.

Thực trạng phổ biến nhất hiện là các cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng trong các lĩnh vực của đời sống còn nghèo nàn, lạc hậu, thiếu thốn. Biện pháp chủ yếu để khắc phục là cung cấp, sửa chữa, xây dựng lại cơ sở vật chất sao cho phù hợp với những quy chuẩn dành cho NKT mà nhà nước đã đề ra. Tuy nhiên nguồn vốn là vấn đề khó giải quyết, điều này đòi hỏi các chủ thể xây dựng phải tính toán kỹ càng để phác thảo ra một thiết kế sáng tạo, tiết kiệm nhưng vẫn đạt chuẩn; nỗ lực tìm kiếm nguồn hỗ trợ từ xã hội, từ cộng đồng, từ các nhà hảo tâm thông qua tổ chức các chiến dịch vì cộng đồng; cân đối giữa ngân sách trung ương và địa phương;…

Ngoài ra một vài biện pháp cụ thể khác như: trong lao động cần nâng mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi phân biệt đối xử, thậm chí BLHS có thể bổ sung vào phạm vi trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong tuyển dụng, sử dụng và quản lý lao động; pháp luật thuế cần bổ sung các hỗ trợ tài chính cho NKT khởi nghiệp; cần tăng cường vốn và tài chính cho các chương trình liên quan đến NKT; đẩy mạnh việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức về NKT, về quyền của NKT đến mọi chủ thể trong xã hội. Trong y tế, Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu khoa học, đào tạo chuyên gia, kỹ thuật viên về sản xuất trang thiết bị dành cho NKT, về chỉnh hình, phục hồi chức năng; có các chính sách hỗ trợ, miễn giảm thuế, ưu đãi về lãi suất với các cơ sở sản xuất để giảm bớt gánh nặng cho họ trong việc hỗ trợ chỉnh hình, phục hồi chức năng cho NKT. Trạm y tế cấp xã cần chú trọng triển khai các hình thức tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức phổ thông về chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa, giảm thiểu KT; hướng dẫn NKT phương pháp phòng bệnh, tự chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng. Bên cạnh đó, cơ quan này phải lập hồ sơ theo dõi, quản lý sức khỏe NKT thường xuyên, tiến hành khám chữa bệnh phù hợp với phạm vi chuyên môn cho họ. Trong giáo dục, cần thúc đẩy quyền của NKT trong việc tiếp cận giáo dục các cấp và các hình thức giáo dục khác nhau; phát hiện và can thiệp sớm KT để trẻ có cơ hội hòa nhập giáo dục tốt hơn; phát triển các hình thức ngôn ngữ cho NKT và tạo điều kiện để NKT được tiếp cận ngôn ngữ đó; tập huấn ngôn ngữ kí hiệu, chữ nổi cho cán bộ, nhân viên ngành y tế, giáo dục, xã hội,.. để họ phục vụ tốt hơn cho NKT; các cơ sở đào tạo chú trọng tập huấn giáo viên về giáo dục chuyên biệt hoặc tuyển dụng giáo viên chuyên biệt có năng lực để sẵn sàng tiếp nhận và dạy trẻ KT; thúc đẩy sự hỗ trợ tài chính để xây dựng, cải thiện dụng cụ giảng dạy, cơ sở vật chất của Nhà trường; cần có sự liên thông gắn bó giữa các cấp giáo dục trong dạy học cho NKT để NKT có cơ hội phát triển lên cấp cao hơn; tuân thủ nghiêm túc các quy định liên quan đến giáo dục NKT; động viên trẻ KT và gia đình trẻ khắc phục khó khăn, rào cản tâm lý để đưa trẻ đến trường; nâng cao nhận thức của cộng đồng về giáo dục cho NKT tại địa phương.

5. Văn bản pháp lý chứa đựng nguyên tắc

Nội dung của nguyên tắc được thể hiện xuyên suốt trong các văn bản pháp lý như: Luật Người khuyết tật 2010, Nghị định 28/2012/NĐ-CP hướng dẫn về Luật Người khuyết tật, Luật Khám, chữa bệnh, Thông tư liên tịch số 42/2013/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH-BTC quy định về chính sách giáo dục với người khuyết tật,...