1. Hội thẩm nhân dân

Hội thẩm nhân dân là Người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án.

Hội thẩm dân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu theo sự giới thiệu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, đồng thời, cũng do Hội đồng nhân dân cùng cấp miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp sau khi thống nhất với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.

Nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp.

Trong khi xét xử, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán và độc lập, chỉ tuân theo pháp luật. 

2. Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia

Điều 22 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:

Điều 22. Thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia

Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn do Bộ luật này quy định.

Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm quân nhân là người trực tiếp làm việc, sống và tham gia sinh hoạt xã hội cùng quần chúng nhân dân, họ đem đến phiên tòa những suy nghĩ và ý kiến của quần chúng về vụ án, góp phần giúp Tòa án xử lý vụ án chính xác, công minh.

Thứ nhất, một trong những đặc trưng của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Bản thân chế định Hội thẩm là sự thể hiện tư tưởng ” lấy dân làm gốc”, bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án.

Tòa án là cơ quan quyền lực của Nhà nước, Nhà nước thông qua Tòa án để thực hiện quyền lực tư pháp của mình. Chính bằng hoạt động xét xử, Tòa án giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của nhân dân. Hội thẩm bằng sự tham gia của mình vào Hội đồng xét xử mà thực hiện quyền lực tư pháp và thông qua đó để nhân dân tham gia một cách có hiệu quả vào công tác quản lý Nhà nước nói chung, hoạt động của Tòa án nói riêng.

Thứ hai, nguyên tắc này nhằm đảm bảo cho nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử và tạo điều kiện cho hoạt động xét xử. Hoạt động xét xử có sự tham gia của nhân dân sẽ được tiến hành một cách khách quan, công bằng, chính xác bảo đảm được đúng pháp luật và bảo đảm được công lý. Nguyên tắc này cũng cho thấy tính chất dân chủ của các hoạt tư pháp trong đó có tư pháp hình sự.

Thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ góp phần vào việc củng cố tốt mối quan hệ giữa Tòa án và nhân dân, nâng cao tính chính xác, bảo đảm công minh trong công tác xét xử, góp phần vào việc phòng ngừa tội phạm.

Thứ ba, việc xét xử của Tòa án có Hội thẩm tham gia. Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm quân nhân là sẽ người được bầu hoặc cử tham gia vào hoạt động xét xử. Với kinh nghiệm sống của mình, cùng với kiến thức chuyên môn Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm quân nhân góp phần quan trọng vào việc làm sáng tỏ, xác định sự thật của vụ án. Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm quân nhân là người trực tiếp làm việc, sống và tham gia sinh hoạt xã hội cùng quần chúng nhân dân, họ đem đến phiên tòa những suy nghĩ và ý kiến của quần chúng về vụ án, góp phần giúp Tòa án xử lý vụ án chính xác, công minh.

Thứ tư, khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán. Khi xét xử vụ án hình sự, mọi vấn đề phải được Thẩm phán và Hội thẩm thảo luận và thông qua tại phòng nghị án. Trong khi giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình xét xử cũng như trong khi quyết định bản án, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán.

Thứ năm, để bảo đảm cho Hội thẩm tham gia hoạt động xét xử có hiệu quả, một mặt, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các cơ sở kinh tế, các đơn vị vũ trang, các địa phương nơi Hội thẩm công tác và cư trú có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho Hội thẩm thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, và mặt khác Hội thẩm phải tự mình bồi dưỡng kiến thức pháp lý, nâng cao ý thức trách nhiệm tham gia công tác xét xử.

3. Tại sao xét xử theo thủ tục rút gọn không có sự tham gia của Hội thẩm?

Thủ tục rút gọn ra đời nhằm mục đích giảm tải công việc của cơ quan tố tụng, giải quyết nhanh chóng những loại án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, sớm khôi phục lại các quan hệ xã hội bị xâm hại, là thủ tục có tác động giáo dục, cải tạo bị cáo và giáo dục cộng đồng một cách có hiệu quả.

Thủ tục rút gọn là một dạng đặc biệt của tố tụng hình sự, trong đó có sự giảm lược bớt một số khâu, một số thủ tục không cần thiết trong việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự nhằm rút ngắn thủ tục tố tụng, làm cho việc xử lý vụ án được nhanh chóng hơn nhưng vẫn đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm kịp thời, có hiệu quả, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. 

Chính vì vậy mà trong thủ tục rút gọn sẽ không có hội thẩm tham gia và phiên tòa xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành.

Thủ tục rút gọn không phải là một thủ tục mới trong lịch sử lập pháp và áp dụng pháp luật ở nước ta. Từ năm 1974, ở nước ta đã có những văn bản quy định về thủ tục rút gọn và đã được áp dụng trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử. Trên cơ sở kế thừa những quy định về thủ tục rút gọn của pháp luật tố tụng hình sự trước đó và thực tiễn áp dụng pháp luật.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định một chương riêng (chương XXXI) gồm 11 điều luật (từ Điều 455 đến Điều 465) quy định về thủ tục rút gọn.

4. Địa vị pháp lý và vai trò của Hội Thẩm nhân dân trong công tác xét xử

Việc nhân dân tham gia hoạt động xét xử của Tòa án được thể hiện tập trung nhất thông qua chế định về Hội thẩm nhân dân. Đây là một chế định được ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháp (từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013).

Bản thân chế định Hội thẩm là sự thể hiện tư tưởng “lấy dân làm gốc”, bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án, thể hiện bản chất nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 (Điều 103) và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 (Điều 8, 9) thì việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia; Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Như vậy, thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia và  địa vị pháp lý của Hội thẩm khi xét xử độc lập với Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật là nguyên tắc hiến định.

Các văn bản pháp luật tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hành chính đều ghi nhận nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia và Hội thẩm được xác định là một trong những người tiến hành tố tụng. Khi được phân công giải quyết vụ án thì Hội thẩm có các nhiệm vụ như: nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa; tham gia xét xử các vụ án theo thủ tục sơ thẩm các loại vụ án (riêng đối với vụ án hình sự thì theo BLTTHS năm 2003 thì Hội thẩm có thể tham gia xét xử theo thủ tục phúc thẩm trong trường hợp cần thiết, BLTTHS năm 2015 thì HĐXXPT chỉ có ba Thẩm phán); tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử; Hội thẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình. Về số lượng Hội thẩm tham gia Hội đồng xét xử, pháp luật tố tụng quy định thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm: 01 Thẩm phán và 02 Hội thẩm; trong trường hợp vụ án có tính chất phức tạp, nghiêm trọng thì Hội đồng xét xử có thể gồm 02 Thẩm phán và 03 Hội thẩm. Về nguyên tắc xét xử, Điều 10 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định:  “Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số…”.
Hội thẩm có địa vị pháp lý và vai trò rất quan trọng trong công tác xét xử, vì khi tham gia xét xử ở cấp sơ thẩm, Hội thẩm chiếm đa số trong Hội đồng xét xử (2/3 hoặc 3/5) và khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán khi ra các phán quyết về vụ án. Như vậy, khi xét xử nếu ý kiến biểu quyết của các Hội thẩm là giống nhau và khác với ý kiến của Thẩm phán thì quyết định của Hội đồng xét xử phải theo ý kiến của các Hội Thẩm (đa số), mặc dù là người xét xử có tính chất chuyên nghiệp thì Thẩm phán cũng chỉ có quyền bảo lưu ý kiến của mình và đề nghị Tòa án cấp trên xem xét.

5. Hội thẩm nhân dân tại phiên tòa hình sự

Điều 307 của BLTTHS năm 2015 thì thứ tự hỏi như sau: Chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm. Còn việc hỏi ai trước và hỏi ai sau thì BLTTHS không quy định, mà tùy từng vụ việc cụ thể để HĐXX xác định thứ tự hỏi thế nào cho hợp lý, phụ thuộc vào tính chất vụ việc, khả năng, thái độ khai báo của các bị cáo trong vụ án.

Sau khi Chủ tọa phiên tòa hỏi, các Hội thẩm sẽ hỏi bổ sung cho phần hỏi của chủ tọa phiên tòa, nhằm làm rõ nội dung của vụ án. Cách hỏi mang tính chất nêu vấn đề và hỏi thêm những điểm mà bị cáo, các đương sự khai chưa đầy đủ hoặc còn mâu thuẫn.

Việc đặt câu hỏi có vai trò xác định sự thật của vụ án, trong đó việc tham gia hỏi/xét hỏi của Hội thẩm nhân dân là rất quan trọng, nhưng chúng tôi cho rằng không nhất thiết Hội thẩm nhân dân có tham gia hỏi mới đảm bảo quyền và nghĩa vụ của mình, điều quan trọng là Hội thẩm nhân dân tập trung theo dõi, xác định những nội dung chính, quan trọng liên quan đến vụ án đã được hỏi rõ chưa, còn vấn đề nào thấy chưa rõ thì tham gia hỏi/xét hỏi để làm rõ. Câu hỏi đưa ra cần đáp ứng các yêu cầu sau:

- Câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng về nội dung và xác định về đối tượng được làm rõ. Không hỏi theo kiểu mớm cung, gợi ý câu trả lời.

- Nhìn chung không đặt các câu hỏi yêu cầu người được xét hỏi trả lời “có” hoặc “không”. Bởi vì với tâm lý sợ hãi, mất bình tĩnh của người được xét hỏi thì cách hỏi như vậy rất dễ thiếu khách quan.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)