1. Chính sách pháp luật

Theo Từ điển tiếng nước ngoài, "Chính sách là hoạt động của các giai cấp xã hội, của các đảng phái, của các nhóm xã hội được xác định bởi các lọi ích và các mục đích của họ, cũng như hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước và các cơ quan quản lý nhà nước thể hiện bản chất kinh tế - xã hội của xã hội đó. Theo Từ điển tiếng Nga, "Chính sách là hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước và các cơ quan quản lý nhà nước phản ánh chế độ xã hội và cơ cấu kinh tế của đất nước, cũng như hoạt động của các đảng phái và của các tổ chức khác, của các nhóm xã hội được xác định bởi các lợi ích và các mục đích của chúng".

Mặt khác, khi nói về chính sách pháp luật với tư cách là một loại hoạt động nhất định, cũng không được quy nó về nhận thức chính trị chỉ gắn liền vói việc giành và giữ quyền lực mà thực chất là đấu tranh vì quyền lực. Nhận thức như vậy về chính sách rất phô’ biến trong sách báo chính trị học.

Chính sách pháp luật không hẳn chỉ là lĩnh vực đấu tranh vì quyền lực mà chủ yếu là hoạt động gắn liền với việc soạn thảo chiến lược điều chỉnh pháp luật và với việc thực hiện chiến lược đó. Zd. Karbone, về vấn đề này, cho rằng, "phân biệt cái pháp lý với cái chính sách là rất khó khăn, bởi vì chính sách, ít nhất có hai sự giải thích. Chính sách có thê’ được hiểu là mọi hoạt động nhằm đạt được mục tiêu nhất định và ở phương diện này có thể nói về chính sách pháp lý (chính sách xây dựng pháp luật, chính sách đấu tranh với tình hình tội phạm - chính sách tội phạm học)".

Ở nghĩa hẹp, chính sách được hiểu là hoạt động thực tiễn của nhà nước và của các chủ thể khác của hệ thống chính trị để giải quyết các nhiệm vụ có ý nghĩa xã hội, cũng như các định hướng cơ bản của hoạt động đó. Trong ngữ cảnh này người ta nói về chính sách kinh tế, chính sách dân số, chính sách khoa học và các chính sách khác.

Đúng vậy, trong đời sống hàng ngày, thông thường, mọi người gọi chính sách là hoạt động có tính hướng đích của nhà nước, của Đảng, của các tổ chức chính trị - xã hội, của các tô’ chức xã hội, của các tô’ chức kinh tế, V.V..

Chính sách pháp luật ở nghĩa rộng lớn về nó là một hiện tượng tập họp hơn là một hiện tượng thống nhất, trong phạm vi của nó có hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Mối tương quan của các hoạt động đó cần phải được làm sáng tỏ.

Tất nhiên, chính sách pháp luật là hoạt động buộc phải dựa vào những tư tưởng, quan điểm, dự định nào đó và đó là hoạt động có tính hướng đích. Không thể nói về hoạt động mà thiếu các tư tưởng, quan điểm, các mục tiêu. Điều đó có nghĩa rằng, hoạt động tự nó đã có tư tưởng, quan điểm, đã có định hướng, đã có mục tiêu. Do vậy, chính sách pháp luật là hoạt động, nhưng đó là hoạt động được định hướng về tư tưởng, quan điểm, về mục tiêu nhất định.

Như vậy, trong định nghĩa về chính sách pháp luật không cần phải chỉ ra các tư tưởng, quan điểm, quan niệm, vì đó là cái đã rõ, là cái đưcmg nhiên, cái tất yếu, cái nằm chính trong chính sách pháp luật.

Chính sách pháp luật với tư cách là hoạt động, nhưng đó phải là hoạt động có căn cứ khoa học, nhất quán và hệ thống của các cơ quan nhà nước và của các thiết chế phi nhà nước. Điều đó có nghĩa rằng, tính khoa học, tính nhất quán, tính hệ thống là những thuộc tính của hoạt động đó.

Nội dung của chính sách pháp luật là xây dựng cơ chế điều chỉnh pháp luật có hiệu quả, sử dụng văn minh các phương tiện pháp luật để đạt được các mục tiêu đã được đề ra. Điều này nói lên rằng, chính sách pháp luật bao trùm toàn bộ cơ chế điều chỉnh pháp luật, và các bộ phận cấu thành cơ chế đó, bao quát toàn bộ đời sống pháp luật của xã hội và các lĩnh vực cụ thể của đời sống pháp luật (lĩnh vực xây dựng pháp luật, lĩnh vực áp dụng pháp luật, lĩnh vực giáo dục và đào tạo pháp luật, lĩnh vực ý thức pháp luật, lĩnh vực học thuật pháp luật, lĩnh vực họp tác quốc tế và hội nhập về pháp luật và các lĩnh vực khác của đời sống pháp luật). Chính sách pháp luật sử dụng một cách văn minh, có trí tuệ các phương tiện pháp luật, tức là phát huy tối đa các tiềm năng, khả năng, vai trò, sứ mệnh, chức năng của các công cụ pháp luật để thực hiện các mục tiêu đã được đề ra.

Chính sách pháp luật bao giờ cũng có các mục tiêu nhất định và hướng đến để đạt được đầy đủ nhất các mục tiêu đó.

Các mục tiêu khái quát nhất của chính sách pháp luật là: công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ đầy đủ nhất các quyền và tự do của con người và của công dân; xây dựng và phát triển nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; hình thành và xây dựng xã hội pháp quyền; xây dựng và phát triển văn hóa pháp quyền và đời sống pháp luật của xã hội và của cá nhân. Các mục tiêu đó, thực chất, là các giá trị xã hội.

Chính sách pháp luật là một hiện tượng bao gồm nhiều tầng, trong đó có tầng tư tưởng pháp quyền. Các tư tưởng pháp quyền là tầng sâu nhất của chính sách pháp luật, của pháp luật. Các tư tưởng pháp quyền thâm nhập một cách sâu sắc vào nội dung của chính sách pháp luật; vào chính cơ thể, tổ chức của nó và đứng như vậy, các tư tưởng đó đã trở thành mắt xích trung tâm sâu sắc nhất của toàn bộ vật chất pháp luật nói chung, của chính sách pháp luật nói riêng.

2. Đặc điểm của tư tưởng pháp quyền

Các tư tưởng pháp quyền có những đặc điểm khách quan sau đây:

- Thứ nhất, các tư tưởng pháp quyền hoặc là tích lũy, chuyển tải đến ngôn ngữ của các quy phạm pháp luật và dưới dạng tập trung hóa là các nguồn gốc vật chất, tinh thần, đạo đức của xã hội đó, các mục tiêu và các xu hướng giá trị - trí tuệ vốn có trong chế độ của nó.

- Thứ hai, các tư tưởng pháp quyền hoặc là thể hiện các mục tiêu giai cấp hẹp hòi, nhóm xã hội, dân tộc hoặc ngay cả quan niệm học thuyết triết học chật hẹp hướng đến việc làm cho toàn bộ vật chất pháp luật phục tùng mình, và thông qua quan niệm đó làm cho hiện thực pháp luật phục tùng nó.

- Thứ ba, các tư tưởng pháp quyền là "loại danh thiếp đặc thù của pháp luật trong xã hội đó” (theo s.s. Alekseev: Triết học pháp luật, Sđd, tr.51 (bản tiếng Nga)., và về mặt thực tế thể hiện với tư cách là những tác nhân quyết định nội dung của hệ thống pháp luật, ảnh hưởng đến tính chất, cơ cấu và nội dung của các quyền chủ thê) mối tương quan của các quyền chủ thể, các điều cấm, trách nhiệm, đến địa vị của chúng trong toàn bộ kết cấu hạ tầng pháp luật, đến tính hiện thực, tính khả thi, tính được bảo đảm, tính được bảo vệ của chúng... (theo Võ Khánh Vinh: Nguyên tắc pháp quyền: những vấn đê lý luận, Tạp chí Pháp luật và thực tiễn, số 4/2017).

Như vậy, các tư tưởng pháp quyền (những nguyên tắc cơ bản, trung tâm tạo thành chính trung tâm, cái lõi, hạt nhân của mọi hệ thống pháp luật) là tầng của chính sách pháp luật, của pháp luật mà ở đó triết học pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật kết hợp với nhau. Các tư tưởng pháp quyền tác động đến toàn bộ nội dung, đến tất cả các tầng của vật chất pháp luật, của pháp luật, của chính sách pháp luật.

3. Khái quát về nguyên tắc của chính sách pháp luật

Các nguyên tắc của chính sách pháp luật gắn liền chặt chẽ vói các tư tưởng pháp quyền, và xét về mặt logic lịch sử, bắt nguồn từ các tư tưởng pháp quyền. Nhưng mặt khác, các nguyên tắc của chính sách pháp luật có cội nguồn và được lấy ra từ trong đời sống pháp luật của xã hội, từ trong xã hội.

Chính sách pháp luật được xây dựng và thực hiện dựa trên những nguyên tắc nhất định. Vậy các nguyên tắc của chính sách pháp luật là gì?

4. Khái niệm nguyên tắc

Từ "nguyên tắc" theo tiếng Latinh (principium), có nghĩa đúng nguyên văn là nên tảng, cơ sở, khởi điểm, tư tưởng chỉ đạo, luận điểm xuất phát của một hiện tượng nào đó (học thuyết, tổ chức, hoạt động...). Những người thời xưa đã lưu ý rằng, "nguyên tắc là bộ phận quan trọng nhất của tất cả" (principium est porissima pars cujuque rei).

Có thể hiểu cái nguyên tắc của chính sách pháp luật dưới hai dạng: các nguyên tắc của chính sách pháp luật do các nhà khoa học luật học diễn đạt và các nguyên tắc của chính sách pháp quyền dưới dạng các yếu tố độc lập tưcmg đối trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật.

Các nguyên tắc của chính sách pháp luật bao giờ cũng được thể hiện dưới dạng các đòi hỏi bắt buộc chung và là những yếu tố quan trọng nhất trong chính sách pháp luật.

5. Đặc trưng nguyên tắc của chính sách pháp luật

Các nguyên tắc của chính sách pháp luật có nhiều đặc điểm đặc trưng.

Đó là, các nguyên tắc của chính sách pháp luật: có trình độ khái quát hóa và trừu tượng hóa các quy định về chính sách pháp luật rất cao; có tính vững chắc và ôh định, mang tính nền tảng tư tưởng; có các thuộc tính khách quan - chủ quan; có tác động thông tín, định hướng và điều chỉnh rất lớn đến ý thức và hành vi của con người.

Chất lượng và hiệu quả hoạt động xây dựng chính sách pháp luật và hoạt động thực hiện chính sách pháp luật, của hoạt động nghiên cứu và đào tạo chính sách pháp luật và các hoạt động thực tiễn pháp luật khác ở chừng mực rất lớn tùy thuộc vào khả năng áp dụng một cách văn minh, thành thạo các nguyên tắc pháp quyền của các chủ thể chính sách pháp luật. Trong trường hợp này, các nguyên tắc của chính sách pháp luật không chỉ là những cái định hướng đối với những người xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách pháp luật mà còn là tiêu chuẩn đánh giá hoạt động của nó.

Các nguyên tắc của chính sách pháp luật là phương tiện để xác định những khoảng trống, chỗ hổng, các mâu thuẫn và những hạn chế, thiếu sót khác trong chính sách pháp luật, trong pháp luật thực định. Trong trường hợp này, việc khắc phục những khoảng trống, chỗ hổng, những mâu thuẫn, những hạn chế, thiếu sót đó cần phải dựa vào các nguyên tắc của chính sách pháp luật.

Mỗi nguyên tắc của chính sách pháp luật đều có cấu tạo rất phức tạp. Mỗi nguyên tắc bao gồm các đòi hỏi khác nhau, có mối liên hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau.

Như vậy, các nguyên tắc của chính sách pháp luật là các tư tưởng nền tảng cơ bản xác định các cách tiếp cận chung của nhà nước và xã hội đến hoạt động mang tính định hướng chiến lược trong lĩnh vực điều chỉnh pháp luật các quan hệ xã hội. Các nguyên tắc đó được lấy ra từ các quy luật phát triêh khách quan của pháp luật, từ chức năng tiền định và tính định hướng của nó, có nhiệm vụ thống nhất hóa tính chất tác động mang tính hướng đích đến các quan hệ xã hội với sự trợ giúp của các phương tiện pháp luật, đồng thời, là tiêu chuẩn để đánh giá tính đúng đắn của các quyết định xây dựng pháp luật và các quyết định áp dụng pháp luật được đưa ra.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).