1. Nhà nước, cơ quan nhà nước có bình đẳng với các chủ thể khác khi tham gia quan hệ dân sự không?

Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của tổ chức chính trị, có bộ máy chuyên trách để cưỡng chế và quản lý xã hội nhằm thực hiện và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ thực hiện nền chuyên chính và bảo vệ lợi ích giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một bộ máy thống trị của đa số với thiểu số.

Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (Điều 2 Hiến pháp năm 2013).

Trong quan hệ pháp luật dân sự, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xem là chủ thể đặc biệt, tính chất đặc biệt thể hiện ở nhiều yếu tố khác nhau như: Nhà nước đại diện cho toàn dân, là chủ thể quản lý, sử dụng, định đoạt với tài sản sở hữu toàn dân, là chủ thể xây dựng pháp luật...

Nhưng khi tham gia vào các quan hệ dân sự thì Nhà nước, các cơ quan nhà nước bình đẳng với các chủ thể khác và phải chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình đối với các nghĩa vụ dân sự. Nhà nước thường tham gia vào các quan hệ dân sự như mua sắm công, các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài...

Điều này được quy định tại Điều 97 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 97. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương trong quan hệ dân sự

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương khi tham gia quan hệ dân sự thì bình đẳng với các chủ thể khác và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định tại Điều 99 và Điều 100 của Bộ luật này.

2. Nhà nước, các cơ quan nhà nước tham gia quan hệ dân sự thông quan phương thức nào?

Điều 98 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:

Điều 98. Đại diện tham gia quan hệ dân sự

Việc đại diện cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương tham gia quan hệ dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước. Việc đại diện thông qua cá nhân, pháp nhân khác chỉ được thực hiện trong các trường hợp và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Nhà nước, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương là một tổ chức gồm nhiều người khác nhau, do đó, khi những tổ chức này tham gia vào quan hệ dân sự thì cần có chủ thể làm đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch nhân danh Nhà nước, cơ quan nhà nước. Việc đại diện phải phù hợp với quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước. Việc đại diện thông qua cá nhân, pháp nhân khác chỉ được thực hiện trong các trường họp và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Việc đại diện có thể được phân chia thành đại diện trong nước và việc đại diện ở nước ngoài. Luật cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài năm 2009 quy định, cơ quan đại diện thực hiện chức năng đại diện chính thức của Nhà nước Việt Nam trong quan hệ với quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế tiếp nhận và thống nhất quản lý hoạt động đối ngoại phù hợp với quy định tại Điều 12 của Luật này. Cơ quan đại diện bao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự, cơ quan đại diện tại tổ chức quốc tế.

>> Xem thêm:  Nhà nước là gì ? Dấu hiệu đặc trưng của nhà nước là gì ?

Theo quy định tại Luật cơ quan đại diện nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài năm 2009 thì:

"Cơ quan đại diện bao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự, cơ quan đại diện tại tổ chức quốc tế"

- Cơ quan đại diện ngoại giao là Đại sứ quán.

- Cơ quan đại diện lãnh sự là Tổng Lãnh sự quán và Lãnh sự quán.

- Cơ quan đại diện tại tổ chức quốc tế là Phái đoàn thường trực, Phái đoàn, Phái đoàn quan sát viên thường trực và cơ quan có tên gọi khác thực hiện chức năng đại diện của Nhà nước Việt Nam tại tổ chức quốc tế liên chính phủ.

3. Nhà nước có cần phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự không?

Theo khoản 2 Điều 99 Bộ luật dân sự 2015:

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của mình bằng tài sản mà mình là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, trừ trường hợp tài sản đã được chuyển giao cho pháp nhân theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Việc tham gia vào các quan hệ dân sự sẽ tạo lập ra các quyền và nghĩa vụ cho Nhà nước, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, về nguyên tắc, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của mình bằng tài sản mà mình là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Thực chất, Nhà nước, cơ quan nhà nước ở trung ương, địa phương xác lập và thực hiện các quan hệ dân sự hướng tới lợi ích của quốc gia, nhân dân, do đó, Nhà nước, cơ quan nhà nước trung ương, ở địa phương chịu trách nhiệm bằng tài sản của toàn dân mà chính Nhà nước hoặc cơ quan là đại diện chủ sở hữu.

4. Pháp nhân do Nhà nước thành lập có phải chịu trách nhiệm thay cho Nhà nước không?

Nhà nước, cơ quan nhà nước được quyền thành lập các pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại nhằm mục đích phát triển kinh tế hoặc vì mục tiêu xã hội. Các pháp nhân mặc dù được thành lập bởi Nhà nước hoặc các cơ quan nhà nước nhưng những pháp nhân này có tư cách chủ thể độc lập, có tài sản riêng, do đó, chủ thể này không phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ dân sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương.

>> Xem thêm:  Cải cách bộ máy nhà nước là gì ? Khái niệm về bộ máy nhà nước ?

Bộ luật dân sự 2015 quy định:

Điều 99. Trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự

....

2. Pháp nhân do Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương thành lập không chịu trách nhiệm về nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ dân sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương.

3. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương không chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của pháp nhân do mình thành lập, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước, trừ trường hợp Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương bảo lãnh cho nghĩa vụ dân sự của pháp nhân này theo quy định của pháp luật.

4. Cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương không chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước khác ở Trung ương, ở địa phương, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

Mối quan hệ giữa Nhà nước, cơ quan nhà nước và pháp nhân được thành lập mang tính chất hai chiều. Pháp nhân không phải chịu trách nhiệm cho chủ thể thành lập ra chính mình là Nhà nước, cơ quan nhà nước. Ngược lại, Nhà nước, cơ quan nhà nước không chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của pháp nhân do mình thành lập, bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước.

Tuy nhiên, trường hợp Nhà nước, cơ quan nhà nước bảo lãnh cho nghĩa vụ dân sự của pháp nhân mà mình thành lập thì họ phải chịu trách nhiệm với tư cách là người bảo lãnh theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh sự phân định giữa trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan nhà nước với pháp nhân do chính Nhà nước, cơ quan nhà nước thành lập thì Điều luật trên còn phân định trách nhiệm giữa cơ quan nhà nước với trách nhiệm của Nhà nước và giữa các cơ quan nhà nước với nhau. Theo đó, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương không chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của Nhà nước, cơ quan nhà nước khác, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

5. Trách nhiệm dân sự giữa Nhà nước Việt Nam với nhà nước, cơ quan, cá nhân nước ngoài.

Điều 100 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:

1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự do mình xác lập với nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài trong trường hợp sau đây:

a) Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định về việc từ bỏ quyền miễn trừ;

b) Các bên trong quan hệ dân sự có thỏa thuận từ bỏ quyền miễn trừ;

c) Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương từ bỏ quyền miễn trừ.

2. Trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của nhà nước, cơ quan nhà nước của nước ngoài khi tham gia quan hệ dân sự với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương, pháp nhân, cá nhân Việt Nam được áp dụng tương tự khoản 1 Điều này.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa về kinh tể, xã hội, Nhà nước, cơ quan nhà nước Việt Nam thường xuyên có sự hợp tác, giao lưu về mọi mặt với các chủ thể nước ngoài khác. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự do mình xác lập với nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài trong trường hợp sau đây:

- Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có qưy định về việc từ bỏ quyền miễn trừ. Luật quốc tế và luật quốc gia phần lớn đều thừa nhận tư cách chủ thể đặc biệt của quốc gia khi tham gia vào mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Khi tham gia vào quan hệ tư pháp quốc tế, quốc gia được hưởng các quyền miễn trừ trong đó quan trọng nhất là quyền miễn trừ tư pháp và miễn trừ đối với tài sản của quốc gia, gọi chung là quyền miễn trừ của quốc gia.

- Các bên trong quan hệ dân sự có thỏa thuận từ bỏ quyền miễn trừ. Việc từ bỏ quyền miễn trừ của quốc gia trong trường hợp này xuất phát từ sự thỏa thuận, thống nhất của các bên trong quan hệ. Đặc trưng của quan hệ dân sự là sự tự do ý chí nên Nhà nước, cơ quan nhà nước Việt Nam trong quan hệ với Nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài thì các bên được quyền thỏa thuận về việc từ bỏ quyền miễn trừ.

- Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương từ bỏ quyền miễn trừ. Đây là trường họp, Nhà nước, cơ quan nhà nước từ bỏ quyền miễn trừ theo ý chí, theo sự quyết định của chính mình. Thông thường, việc Nhà nước, cơ quan nhà nước từ bỏ quyền miễn trừ của mình là nhằm tạo ra một cơ chế ngang bằng với các chủ thể nước ngoài đang có quan hệ với họ. Khi Nhà nước, cơ quan nhà nước từ bỏ quyền miễn trừ thì họ phải chịu nghĩa vụ trước Nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài mà họ xác lập quan hệ.

>> Xem thêm:  Nhà nước pháp quyền là gì ? Phân tích các quan điểm về nhà nước pháp quyền

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Bản chất của nhà nước là gì ? Khái niệm bản chất nhà nước được hiểu như thế nào ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Quyền miễn trù tư pháp đối với quốc gia bao gồm?

Trả lời:

- Miễn trừ quốc gia bị xét xử tại bất cứ Tòa án nào.

- Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế.

- Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo thi hành quyết định của Tòa án.

Câu hỏi: Quyền miễn trừ đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của quốc gia được hiểu như thế nào?

Trả lời:

Nội dung của quyền này là những tài sản được xác định thuộc quyền sở hữu của quốc gia thì không thể là đối tượng áp dụng các biện pháp tư pháp khi quốc gia đưa vào tham gia các quan hệ dân sự quốc tế. Quyền miễn trừ về tài sản là một nội dung không thể tách rời của quyền miễn trừ của quốc gia và ngày càng thể hiện vai trò quan trọng của mình trong việc bảo vệ hữu hiệu lợi ích của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế.

Câu hỏi: Trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của nhà nước, cơ quan nhà nước của nước ngoài đối với Nhà nước Việt Nam như thế nào?

Trả lời:

Bộ luật dân sự 2015:

Điều 100. Trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương trong quan hệ dân sự với một bên là nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài

1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương chịu trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự do mình xác lập với nhà nước, pháp nhân, cá nhân nước ngoài trong trường hợp sau đây:

a) Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định về việc từ bỏ quyền miễn trừ;

b) Các bên trong quan hệ dân sự có thỏa thuận từ bỏ quyền miễn trừ;

c) Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương từ bỏ quyền miễn trừ.

2. Trách nhiệm về nghĩa vụ dân sự của nhà nước, cơ quan nhà nước của nước ngoài khi tham gia quan hệ dân sự với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, ở địa phương, pháp nhân, cá nhân Việt Nam được áp dụng tương tự khoản 1 Điều này.