1. Nhân viên bộ phận nghiệp vụ công ty chứng khoán phải có chứng chỉ gì?
Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Thông tư 121/2020/TT-BTC, công ty chứng khoán có trách nhiệm đảm bảo rằng nhân viên làm việc tại bộ phận nghiệp vụ của họ phải được trang bị chứng chỉ hành nghề chứng khoán phù hợp với nghiệp vụ mà họ thực hiện, tuân thủ đúng quy định của pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Chứng chỉ hành nghề chứng khoán là một giấy chứng nhận chứng minh khả năng và năng lực của nhân viên để thực hiện các hoạt động liên quan đến chứng khoán. Đảm bảo rằng nhân viên làm việc tại bộ phận nghiệp vụ được trang bị kiến thức, kỹ năng và hiểu biết đầy đủ về các quy định và quy trình pháp lý liên quan đến chứng khoán.
Quy định này nhằm đảm bảo tính chuyên nghiệp và đạo đức trong hoạt động của công ty chứng khoán. Việc yêu cầu nhân viên có chứng chỉ hành nghề chứng khoán phù hợp là một cách để đảm bảo rằng họ có kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc một cách hiệu quả và đảm bảo quyền lợi cho khách hàng.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Thông tư 121/2020/TT-BTC của Bộ Tài chính, công ty chứng khoán có trách nhiệm đảm bảo rằng nhân viên làm việc tại bộ phận nghiệp vụ của họ phải được trang bị chứng chỉ hành nghề chứng khoán phù hợp với nghiệp vụ mà họ thực hiện, tuân thủ đúng quy định của pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Chứng chỉ hành nghề chứng khoán là một tài liệu chứng nhận khả năng và năng lực của nhân viên để thực hiện các hoạt động liên quan đến chứng khoán. Đảm bảo rằng nhân viên làm việc tại bộ phận nghiệp vụ được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng và hiểu biết về các quy định và quy trình pháp lý liên quan đến chứng khoán.
Quy định này nhằm mục đích đảm bảo tính chuyên nghiệp và đạo đức trong hoạt động của công ty chứng khoán. Yêu cầu nhân viên có chứng chỉ hành nghề chứng khoán phù hợp là một biện pháp cần thiết để đảm bảo rằng họ sở hữu kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc một cách hiệu quả và bảo vệ quyền lợi của khách hàng.
Để nhận được chứng chỉ hành nghề chứng khoán, nhân viên phải hoàn thành và đáp ứng đủ yêu cầu đào tạo chứng khoán. Quá trình đào tạo này bao gồm việc nắm vững các khía cạnh cơ bản và chuyên sâu của lĩnh vực chứng khoán, bao gồm các quy định pháp luật, quy trình giao dịch, phân tích thị trường và quản lý rủi ro.
Công ty chứng khoán có trách nhiệm xác minh và kiểm tra chứng chỉ hành nghề chứng khoán của nhân viên để đảm bảo tính hợp lệ và tuân thủ quy định. Đồng thời, công ty cũng phải đảm bảo rằng nhân viên được tham gia các khóa đào tạo và cập nhật kiến thức thường xuyên để nâng cao năng lực và thích ứng với sự thay đổi của thị trường chứng khoán.
Trách nhiệm của công ty chứng khoán không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo nhân viên được trang bị chứng chỉ hành nghề chứng khoán phù hợp, mà còn bao gồm việc đảm bảo tuân thủ đúng các quy định và quy trình liên quan đến chứng khoán. Vi phạm các quy định này có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến uy tín và danh tiếng của công ty, đồng thời gây tổn thất tài chính cho khách hàng và thị trường chứng khoán.
Tóm lại, yêu cầu nhân viên làm việc tại bộ phận nghiệp vụ của công ty chứng khoán phải có chứng chỉhành nghề chứng khoán phù hợp là một biện pháp cần thiết để đảm bảo tính chuyên nghiệp, đạo đức và hiệu quả trong hoạt động của công ty. Đồng nghĩa với việc nhân viên sẽ có kiến thức, kỹ năng và sự am hiểu sâu sắc về lĩnh vực chứng khoán, đồng thời tuân thủ đúng quy định của pháp luật và thị trường chứng khoán.
2. Hành vi công ty chứng khoán không được thực hiện khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng
Theo quy định tại khoản 6, Điều 4 của Thông tư 121/2020/TT-BTC, công ty chứng khoán, trong quá trình cung cấp dịch vụ cho khách hàng, có những hành vi cấm mà không được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật. Cụ thể, những hành vi đó bao gồm:
- Quyết định đầu tư chứng khoán thay cho khách hàng: Công ty chứng khoán không được thay khách hàng trong việc quyết định đầu tư chứng khoán. Khách hàng có quyền tự do lựa chọn và quyết định về việc đầu tư chứng khoán của mình.
- Thỏa thuận chia sẻ lợi nhuận hoặc lỗ với khách hàng: Công ty chứng khoán không được thỏa thuận chia sẻ lợi nhuận hoặc lỗ với khách hàng. Mọi lợi nhuận hoặc lỗ thuộc về khách hàng dựa trên quyết định và hoạt động đầu tư của khách hàng.
- Quảng cáo, tuyên bố về giá trị cao hơn của công ty chứng khoán so với công ty khác: Công ty chứng khoán không được quảng cáo, tuyên bố rằng nội dung, hiệu quả hoặc phương pháp phân tích chứng khoán của mình có giá trị cao hơn so với công ty chứng khoán khác. Các tuyên bố phải được căn cứ vào dữ liệu và thông tin công khai chính xác.
- Cung cấp thông tin sai sự thật để dụ dỗ hoặc mời gọi khách hàng mua bán chứng khoán: Công ty chứng khoán không được cung cấp thông tin sai sự thật nhằm dụ dỗ hoặc mời gọi khách hàng mua bán một loại chứng khoán nào đó. Thông tin cung cấp phải đáng tin cậy và chính xác để khách hàng có thể đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn.
- Cung cấp thông tin sai lệch, gian lận hoặc gây hiểu nhầm cho khách hàng: Công ty chứng khoán không được cung cấp thông tin sai lệch, gian lận hoặc gây hiểu nhầm cho khách hàng. Mọi thông tin cung cấp phải được kiểm chứng và chính xác, nhằm đảm bảo quyền lợi và sự tin tưởng của khách hàng.
- Các hành vi khác trái với quy định của pháp luật: Ngoài những hành vi đã liệt kê, công ty chứng khoán không được thực hiện bất kỳ hành vi nào khác vi phạm quy định của pháp luật.
Những quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích của khách hàng, đảm bảo hoạt động công bằng và minh bạch trong ngành chứng khoán. Các công ty chứng khoán cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định này để đảm bảo sự tin cậy và uy tín của mình trong mắt khách hàng và cộng đồng đầu tư.
3. Tiền thưởng cho nhân viên công ty chứng khoán có phải khoản chi được trừ?
Theo quy định của Thông tư 78/2014/TT-BTC, được sửa đổi bởi Thông tư 96/2015/TT-BTC và Thông tư 25/2018/TT-BTC, có các quy định về việc xác định các khoản chi được trừ và không được trừ khi tính thuế thu nhập. Cụ thể, quy định như sau:
Khoản 2 Điều 6 của Thông tư 78/2014/TT-BTC và các điều chỉnh sau đó quy định về các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Trong số đó, điểm 2.5 quy định về chi tiền lương, tiền công, tiền thưởng cho người lao động trong hai trường hợp sau:
- Chi tiền lương, tiền công và các khoản phải trả khác cho người lao động doanh nghiệp đã hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ nhưng thực tế không chi trả hoặc không có chứng từ thanh toán theo quy định của pháp luật.
- Các khoản tiền lương, tiền thưởng cho người lao động không được ghi cụ thể về điều kiện được hưởng và mức được hưởng trong các hồ sơ như hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể, quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty, Tập đoàn, quy chế thưởng do Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc quy định theo quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty.
Ngoài ra, theo khoản 1 Điều 6 của Thông tư 78/2014/TT-BTC, được sửa đổi bởi Thông tư 96/2015/TT-BTC, quy định về các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Theo quy định này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi ngoại trừ những khoản chi không được trừ được quy định tại Khoản 2 của Thông tư này, nếu đáp ứng các điều kiện sau:
- Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
- Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.
- Khoản chi nếu có hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt phải tuân thủ quy định của văn bản pháp luật về thuế GTGT.
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng.
Trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên ghi trên hóa đơn mà đến thời điểm ghi nhận chi phí, doanh nghiệp chưa thanh toán thì doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Trường hợp khi thanh toán doanh nghiệp không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì doanh nghiệp phải kê khai, điều chỉnh giảm chi phí đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh việc thanh toán bằng tiền mặt (kể cả trong trường hợp cơ quan thuế và các cơ quan chức năng đã có quyết định thanh tra, kiểm tra kỳ tính thuế có phát sinh khoản chi phí này).
Đối với các hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ đã thanh toán bằng tiền mặt phát sinh trước thời điểm Thông tư số 78/2014/TT-BTC có hiệu lực thi hành thì không phải điều chỉnh lại theo quy định tại Điểm này.
Trong quá trình xác định thuế thu nhập, tiền thưởng cho nhân viên có thể được xem là một khoản chi được trừ đi khi đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Khoản chi tiền thưởng phải phát sinh thực tế và liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Có nghĩa là tiền thưởng phải được trả cho nhân viên như là một phần của hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp, không phải là một khoản chi không liên quan hoặc không hợp lý.
- Khoản chi tiền thưởng phải có đầy đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật. Đảm bảo tính minh bạch và hợp pháp của việc chi trả tiền thưởng. Doanh nghiệp phải có các chứng từ hợp lệ để chứng minh việc chi trả tiền thưởng cho nhân viên.
- Đồng thời, khoản chi tiền thưởng phải được quy định cụ thể về điều kiện thường và mức được hưởng trong các loại giấy tờ như hợp đồng lao động, Quy chế tài chính, Quy chế thưởng và các văn bản liên quan khác. Đảm bảo rằng tiền thưởng được trả theo các quy định và thoả thuận đã được thỏa thuận trước đó giữa doanh nghiệp và nhân viên.
Để tiền thưởng cho nhân viên được xem là một khoản chi được trừ khi xác định thuế thu nhập, nó phải được xem như một khoản chi thực tế liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, có đầy đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp và được quy định cụ thể trong các văn bản như hợp đồng lao động, Quy chế tài chính, Quy chế thưởng. Việc tuân thủ các quy định này giúp đảm bảo tính minh bạch và hợp pháp của việc chi trả tiền thưởng trong quá trình xác định thuế thu nhập.
Xem thêm >> Công ty chứng khoán liên doanh (JOINT STOCK COMPANY) là gì?
Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, xin vui lòng không ngần ngại liên hệ với chúng tôi thông qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Đội ngũ chuyên gia của chúng tôi sẵn sàng lắng nghe và cung cấp sự tư vấn chuyên nghiệp để giúp quý khách giải quyết mọi vấn đề một cách hiệu quả và đúng luật. Ngoài ra, quý khách hàng cũng có thể gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc một cách nhanh chóng. Chúng tôi cam kết đáp ứng mọi yêu cầu của quý khách hàng một cách chu đáo và chất lượng.