Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự).

Bộ luật dân sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.6162

 

1. Nhiệm vụ của Bộ luật Dân sự

Theo quy định tại Điều 1 Bộ luật Dân sự năm 2015 về phạm vi điều chỉnh: Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (gọi chung là quan hệ dân sự). 

+ Bộ luật dân sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.

+ Bảo đảm sự bình đẳng, an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự. Bình đẳng giữa các chủ thế được thể hiện là bình đẳng giữa quyền và nghĩa vụ của các bên, các chủ thể khi tham gia vào quan hệ dân sự, bình đẳng về trách nhiệm nếu vi phạm các nghĩa vụ của họ.

+ Góp phần tạo điều kiện đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của người dân, nhằm thúc đẩy sự phát triển về kinh tế - xã hội. Quá trình mở rộng các quyền của các chủ thể là tất yếu khách quan do nhu cầu khách quan của sự phát triển xã hội. Luật dân sự không chỉ quy định các quyền tài sản, các quyền nhân thân của cá nhân và tổ chức mà còn quy định những biện pháp, cách thức để các chủ thể có thể đáp ứng các quyền đó, biến quyền dân sự khách quan thành một quyền dân sự cụ thể của một chủ thể nhất định.

+ Giáo dục con người, nâng cao nhận thức pháp luật cho nhân dân. Bởi các chế tài dân sự không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi của bên bị thiệt hại mà còn có tác dụng giáo dục các chủ thể khác tuân thủ theo quy định của pháp luật dân sự, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác. Trong quá trình giao dịch dân sự, các bên sẽ được pháp luật bảo vệ khi thực hiện giao dịch dân sự. Các bên có thể dựa vào đó để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán. Nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật. Tập quán và quy định tương tự của pháp luật không được trái với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật Dân sự.

Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự gồm có:

(1) Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.

Sự bình đẳng giữa các chủ thể thể hiện ở chỗ là mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau. Mọi pháp nhân đều có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với mục đích hoạt động của mình.

Không có sự phân biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp của các chủ thể trong quan hệ dân sự. Tại khoản 2 Điều 5 Hiến pháp năm 2013, các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Hay Điều 26 Hiến pháp năm 2013 thì công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt; nhà nước có chính sách bảo đảm quyền, cơ hội bình đẳng giới và tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội; nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.

Các chủ thể không được lấy lý do khác biệt về các yếu tố này để đối xử bất bình đẳng với nhau. Tức là, không có một chủ nào được đặc quyền, đặc lợi so với các chủ thể khác trong quan hệ dân sự. Pháp luật bảo hộ như nhau đối với mọi cá nhân và pháp nhân về các quyền nhân thân và quyền về tài sản.

(2) Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.

Các bên tham gia quan hệ dân sự có quyền tự do cam kết, thỏa thuận phù hợp với pháp luật trong việc xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự. Mọi cam kết và thỏa thuận hợp pháp được pháp luật bảo hộ. Dựa trên cam kết, thỏa thuận thì các bên hoàn toàn tự nguyện, không được ai dùng bất cứ thủ đoạn nào nhằm buộc một người cam kết, thỏa thuận trái với ý chí của người đó. Bởi những cam kết, thỏa thuận không có sự tự nguyện của các bên thì có thể bị tuyên bố là vô hiệu. Còn những cam kết, thỏa thuận không có vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.

(3) Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.

Trong quan hệ dân sự, các bên phải hợp tác, giúp đỡ nhau để tạo lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự. Mỗi bên trong quan hệ dân sự không phải chỉ quan tâm đến mỗi quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà còn phải quan tâm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, của Nhà nước và của xã hội. 

Thiện chí là sự thân thiện, mong muốn được thực hiện hoàn thành, thực hiện hoàn toàn tự nguyện. Trung thực được hiểu là tôn trọng khách quan, tôn trọng những điều thực tế, không tạo dựng các thông tin hoặc các yếu tố gây bất lợi trong quá trình thực hiện các giao dịch dân sự. 

Trong quan hệ pháp luật dân sự thì sẽ có nhiều quan hệ mà nghĩa vụ của người này tương ứng với quyền của người khác, do đó chỉ cần bên có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ, đúng thì sẽ đảm bảo lợi ích cho bên có quyền. Do đó, quá trình thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình mà mỗi chủ thể luôn nỗ lực thực hiện tốt nhất bằng hành vi của mình để đem lại lợi ích tối đa cho bên mang quyền đã tạo nên sự lý tưởng trong quan hệ dân sự.

(4) Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Sự xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần của các chủ thể tham gia vào các quan hệ đó. Tuy nhiên, việc thực hiện các hành vi dân sự không thể được thực hiện một cách quá tự do mà phải thực hiện trong một khuôn khổ, hành lang pháp lý nhất định. Quyền của chủ thể này sẽ bị giới hạn bởi quyền của các chủ thể khác và chủ thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự của mình mà gây thiệt hại cho các chủ thể khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các chủ thể bị hại đó.

(5) Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.

Quan hệ dân sự là quan hệ của sự bình đẳng về địa vị pháp lý, sự thiện chí, tự nguyện nên khi gây thiệt hại cho người khác bởi những hành vi của mình thì chủ thể trong quan hệ dân sự phải chịu trách nhiệm.

 

2. Hiệu lực của Bộ luật Dân sự

Theo quy định tại Điều 689 Bộ luật Dân sự năm 2015 về hiệu lực thi hành:

+ Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.

+ Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực.

Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 và vào thời điểm này thì Bộ luật Dân sự năm 2005 sẽ hết hiệu lực.

Nếu bạn đọc có bất kỳ vướng mắc nào liên quan đến vấn đề này hay vấn đề pháp lý khác thì vui lòng liên hệ tới bộ phận tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến của Luật Minh Khuê qua số 1900.6162 để được hỗ trợ kịp thời. Xin chân thành cảm ơn!