1. Khái niệm nhà đầu tư
 Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư trên TTCK; nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp là ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, tổ chức kinh doanh chứng khoán. 
Những đặc điểm của nhà đầu tư và các lý thuyết tài chính hành vi?

2. Mục tiêu của nhà đầu tư

Nhà đầu tư có thể có nhiều mục tiêu khác nhau khi ra quyết định đầu tư. Tuy nhiên, có 3 mục tiêu chính mà bất kỳ nhà đầu tư nào cũng quan tâm, đó là: cổ tức, an toàn vốn, và sự tăng trưởng của vốn đầu tư. Trong đó:
- Cổ tức: được xem là thu nhập trong đầu tư, và đây chính là điểm thu hút đối với nhà đầu tư.
- Sự tăng trưởng của vốn đầu tư: là một nhân tố quan trọng được xem xét bởi các nhà đầu tư. Tăng trưởng vốn được xác định khi chứng khoán được bán  với giá cao hơn giá mua ban đầu. Vì vậy, những nhà đầu tư tìm kiếm sự tăng trưởng vốn đầu tư thì không phải là những người mong muốn thu nhập cố định, thường xuyên từ khoản đầu tư, mà mục tiêu chủ yếu của họ là tìm kiếm khả năng tăng trưởng dài hạn.
- An toàn vốn: hay nói ngược lại là rủi ro, nó luôn gắn liền với thu nhập, muốn nâng cao mức thu nhập thì phải hy sinh một mức độ an toàn. Do đó, sự cân nhắc giữa các mục tiêu này sẽ giúp nhà đầu tư ra quyết định phù hợp.

3. Các lý thuyết tài chính hành vi

Tài chính và kế toán luôn có mối liên hệ khăn khít với nhau. Trong đó, lập BCTC được xem là một ngành hẹp của tài chính, nó tập trung vào vai trò của dữ liệu kế toán trong hành vi thị trường, quyết định quản trị, các chủ thể liên quan và tác động của những chủ thể đó lên việc báo cáo các quyết định. Vì vậy, lý thuyết tài chính hành vi là lý thuyết nền tảng cần được tìm hiểu trước khi nghiên cứu hành vi trong kế toán. Đây cũng là cơ sở để giải thích cho hành vi của nhà đầu tư trên thị trường tài chính.
Thực chất, lý thuyết tài chính hành vi là sự kết hợp giữa lý thuyết tâm lý học nhận thức, tâm lý học hành vi với các nguyên tắc kinh tế học và tài chính nhằm lý giải các quyết định kinh tế của con người. Những lý thuyết này cố gắng giải thích những mâu thuẫn mà lý thuyết tài chính truyền thống vấp phải, bằng cách dựa vào hành vi của con người. Thực tế cho thấy, con người không thể xem xét tất cả các thông tin liên quan, mà thay vào đó họ thường xuyên xử lý thông tin bằng cách sử dụng kinh nghiệm và bộ lọc cảm xúc. Và những quá trình này ảnh hưởng đến hành vi của con người, làm cho hành động của họ có vẻ không hợp lý như mô tả của lý thuyết truyền thống. Một số lý thuyết cơ bản sau đây sẽ cho thấy rõ vấn đề trên.

4. Lý thuyết triển vọng (The prospect theory)

Lý thuyết triển vọng là một lý thuyết thuộc phạm vi phương pháp luận của kinh tế học hành vi. Đây là một thay thế cho lý thuyết hữu dụng kỳ vọng và được phát triển bởi Daniel Kahneman và Amos Tversky vào năm 1979 (Ackert và Deaves, 2010). Đây là lý thuyết thực nghiệm, được xây dựng dựa trên việc con người thực sự hành động như thế nào, và thừa nhận rằng hành vi thường không hợp lý, nhờ vậy mà nó giải thích được những bế tắc của lý thuyết hữu dụng kỳ vọng. Lý thuyết triển vọng khái quát hóa cách hành xử của các cá nhân hay các nhóm cá nhân trong thế giới không chắc chắn. Cốt lõi của lý thuyết này là các nhân tố cảm xúc ngắn hạn (như e ngại sự hối tiếc, e ngại thua lỗ…). Theo đó,  mức hữu dụng sẽ được xác định bởi thái độ của các cá nhân đối với lãi và lỗ,  được hình thành trong quan hệ với một điểm tham chiếu (điểm tham chiếu trong tình huống này đề cập tới giá trị tài sản hiện có), chứ không dựa trên kết quả cuối cùng. Và việc đánh giá lãi/lỗ này được thực hiện dựa vào một số tự nghiệm.
Nói một cách cụ thể, giá trị trong lý thuyết triển vọng được định nghĩa là lãi và lỗ kỳ vọng chứ không phải là mức độ kỳ vọng của giá trị tài sản cuối cùng. Hàm giá trị trong lý thuyết triển vọng lõm trong miền lãi và lồi trong miền lỗ, tạo nên hàm giá trị hình chữ S. Hàm này dốc hơn về phía lỗ (e ngại thua lỗ) so với miền lãi. Điều này có nghĩa là một sự thua lỗ gây ra tác động tiêu cực lớn hơn so với tác động tích cực được tạo ra bởi cùng một mức lãi tương đương. Dưới lý thuyết này, con người e ngại rủi ro trong miền lãi và lại là người tìm kiếm rủi ro trong miền lỗ. Và cách thể hiện cũng ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn (hiệu ứng mô tả).

5. Tự nghiệm và lệch lạc (heuristic and bias)

Tự nghiệm là một cách thức con người sử dụng để đưa ra các quyết định khi thông tin và thời gian bị giới hạn trong một thế giới không chắc chắn. Tversky và Kahneman đưa ra ba loại tự nghiệm là: tình huống điển hình (representativeness), sự sẵn có (availability), neo lại quyết định và điều chỉnh (anchoring and adjudstement). Sau đó, Slovic và các cộng sự đã đưa ra một dạng tự nghiệm nữa là cảm xúc (affect) hay còn gọi là hiệu ứng (Baker và Nofsinger, 2010). Nhìn chung, tự nghiệm khá hữu dụng, nhưng chúng thường dẫn đến các lệch lạc như: quá lạc quan (excessive optimisism), quá tự tin (over confidence), tự xác nhận (confirmation), và ảo tưởng kiểm soát (illusion control).
Tình huống điển hình đề cập đến cách con người xác định xác suất của một sự kiện hay hiện tượng dựa trên sự tương tự của nó đối với những nhóm sự kiện, hiện tượng khác. Điều này là do não bộ con người cho rằng những sự vật có đặc điểm giống nhau sẽ xảy ra giống nhau. Tình huống điển hình có thể dẫn đến những lệch lạc như: mọi người đặt nặng vào những kinh nghiệm gần đây mà phớt lờ những tỷ số dài hạn trung bình, họ chỉ dựa vào những thống kê ít giá trị trên cỡ mẫu nhỏ, và các nhà đầu tư trên thị trường thường tìm mua những cổ phiếu đang “sốt” thay vì những cổ phiếu đang kém hiệu quả, họ thích những cổ phiếu tăng trưởng hơn những cổ phiếu giá trị.
Tính sẵn có là phương pháp tự nghiệm dựa nhiều vào thông tin liên quan đến những sự kiện, tin tức nóng hổi và nổi cộm hoặc những thông tin từ kinh nghiệm, ký ức hoặc sự tưởng tượng. Có lẽ sự sai lệch chủ yếu của phương pháp dựa vào tính sẵn có là do thiếu sự nhạy cảm với kích thước mẫu, vì những thông tin sẵn có thường chỉ phản ánh một cỡ mẫu nhỏ.
Neo lại quyết định và điều chỉnh là phương pháp tính đến sự điều chỉnh từ một điểm xuất phát. Một ví dụ cho việc neo lại quyết định là các nhà đầu tư luôn tham khảo giá mua ban đầu khi bán hoặc phân tích cổ phiếu. Neo lại quyết định làm cho nhà đầu tư xác định phạm vi giá cổ phiếu hoặc thu nhập của công ty dựa trên xu hướng trong quá khứ, kết quả dẫn đến phản ứng chậm chạp với sự thay đổi không được dự kiến (Lưu Thị Bích Ngọc, 2013). Các chuyên gia phân tích tài chính thường công bố giá trị ước tính, thu nhập dự báo, và đưa ra các kiến nghị mua/bán, cũng thường theo mốc neo hoặc đám đông.
Phương pháp tự nghiệm hiệu ứng cung cấp phản ứng đầu tiên đối với sự kích thích, phản ứng này hầu như tự động, không có ý thức, và có xu hướng ảnh hưởng đến quá trình cân nhắc và xử lý thông tin. Phương pháp này kết hợp các hình ảnh được đánh dấu bởi những cảm giác tích cực cũng như tiêu cực, cung cấp các tín hiệu cho quá trình suy xét ra quyết định. Minh họa cho trường hợp này là: các nhà đầu tư thường thích đầu tư vào công ty mới hơn công ty cũ, và những cổ phiếu được cho là đang tăng trưởng.
Có rất nhiều lệch lạc ảnh hưởng đáng kể đến hành vi con người. Trong số đó, tự tin quá mức là một lệch lạc dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực như giao dịch quá mức trên thị trường tài chính, đa dạng hóa danh mục đầu tư thấp, chấp nhận rủi ro vượt trội... Sự quá tự tin là một khuynh hướng mà con người đề cao kiến thức, năng lực và mức độ chính xác trong thông tin của mình, hoặc lạc quan quá mức về tương lai và khả năng kiểm soát tình thế. Một biểu hiện khác của tự tin thái quá là ảo tưởng kiểm soát, nó làm cho người ta tin rằng họ có nhiều khả năng kiểm soát tình huống tốt hơn những gì họ thực sự có thể. Một lệch lạc khác nữa  có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi con người, đó là lệch lạc tự xác nhận, đây là xu hướng tìm kiếm những bằng chứng phù hợp với niềm tin ban đầu và lờ đi những dữ liệu cho thấy điều ngược lại.
Bên cạnh đó, nhận thức của con người trong việc lựa chọn bị ảnh hưởng mạnh bởi sự mô tả của những lựa chọn. Mặc dù sự thật khách quan không thay đổi, nhưng con người thường đưa ra các lựa chọn khác nhau khi câu hỏi được mô tả theo những cách khác nhau.

6. Nhân tố thị trường

Thị trường tài chính có thể bị ảnh hưởng bởi hành vi của nhà đầu tư, và ngược lại các yếu tố thị trường cũng ảnh hưởng đến việc ra quyết định của nhà đầu tư trong TTCK, các yếu tố đó bao gồm: việc thay đổi giá, thông tin thị  trường, xu hướng trong quá khứ của cổ phiếu, sở thích của khách hàng, phản ứng thái quá với sự thay đổi giá, những quy tắc cơ bản của cổ phiếu có liên quan (Lưu Thị Bích Ngọc, 2013).
Thị trường hiệu quả là một thị trường điều chỉnh nhanh chóng đối với thông tin mới, hay nói cách khác, giá cả sẽ luôn luôn phản ánh đầy đủ mọi thông tin hiện có. Theo đó, ba điều kiện của một thị trường hiệu quả là:
(i) Không có chi phí giao dịch trong mua bán chứng khoán
(ii) Các thông tin sẵn có và miễn phí đối với tất cả các bên tham gia thị trường
(iii) Tất cả các bên thống nhất sử dụng thông tin hiện tại vào giá hiện hành và những phân phối giá trong tương lai của mỗi chứng khoán
Theo đó, giá sẽ trở thành một tín hiệu tốt về giá trị, và tạo nên sự phân bổ tốt nhất. Nếu thị trường là hiệu quả, thì thông tin sẽ được phản ánh đầy đủ và ngay lập tức vào trong giá cả và không thể kiếm được lợi nhuận kinh tế thông qua mua bán dựa trên thông tin sẵn có. Tuy nhiên, các bằng chứng thực nghiệm đã phát hiện ra một loạt các bất thường đi ngược lại với tính hiệu quả của thị trường. Những bất thường này cho thấy rằng những nguyên tắc cơ bản của hành vi hợp lý phụ thuộc vào giả thuyết thị trường hiệu quả thì không hoàn toàn chính xác và cần phải xem xét các mô hình khác về hành vi con người dựa trên cơ sở tâm lý học. Thật vậy, các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng thông tin thị trường có ảnh hưởng rất mạnh đến việc ra quyết định của nhà đầu tư và điều này làm cho nhà đầu tư có xu hướng tập trung vào những cổ phiếu phổ biến và những sự kiện gây chú ý khác được dựa trên các thông tin TTCK.

7. Hiệu ứng đám đông (Herding effect) 

Hiệu ứng đám đông trên thị trường tài chính được định nghĩa là xu hướng của hành vi nhà đầu tư làm theo những hành động của người khác. Các nhà đầu tư dựa trên các thông tin chung nhiều hơn thông tin riêng có thể dẫn đến lệch lạc giá của các chứng khoán so với giá trị cơ bản (Lưu Thị Bích Ngọc, 2013). Trên TTCK, các nhà đầu tư theo đám đông sẽ quyết định đầu tư dựa trên quyết định mua và bán chứng khoán của số đông nhà đầu tư. Và điều này sẽ gây ra tình trạng thị trường không hiệu quả, thường được nhận thấy bởi bong bóng đầu cơ. Có một số yếu tố tác động đến hành vi đám đông của nhà đầu tư, gồm : quá tự tin, khối lượng đầu tư,…(Lưu Thị Bích Ngọc, 2013). Càng tự tin thì các nhà đầu tư sẽ càng dựa vào thông tin riêng và ít quan tâm đến hành vi theo đám đông. Trái lại, khi nhà đầu tư đầu tư một lượng lớn vốn, họ có xu hướng làm theo hành động của người khác để giảm thiểu rủi ro. Ngoài ra, sở thích theo đám đông cũng tùy thuộc vào loại nhà đầu tư, ví dụ, nhà đầu tư cá nhân sẽ thích theo đám đông trong việc ra quyết định đầu tư hơn nhà đầu tư tổ chức.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật thuế - Công ty luật Minh Khuê