Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, tôi muốn hỏi trong hợp đồng đầu tư quốc tế có những điều khoản đặc biệt nào?
Cảm ơn!
Trả lời:
1. Hợp đồng đầu tư quốc tế
Hợp đồng đầu tư quốc tế là hợp đồng được đàm phán, ký kết giữa một bên là nhà đầu tư nước ngoài và bên kia là chính phủ hoặc cơ quan thuộc chính phủ hay doanh nghiệp nhà nước của một quốc gia. Một định nghĩa khác chi tiết hơn, nêu rõ đặc trưng của loại hợp đồng này: “là hợp đồng đầu tư mà quốc gia hay một thực thể của quốc gia được độc quyền kiểm soát một lĩnh vực kinh tế của quốc gia đó, ký kết với một thực thể nước ngoài có ý định thiết lập một mối quan hệ kinh doanh lâu dài với quốc gia hay một thực thể của quốc gia trong lĩnh vực kinh tế."
Một số điều ước quốc tế về đầu tư cũng điều chỉnh hợp đồng đầu tư quốc tế khi có quy định vi phạm hợp đồng sẽ cấu thành vi phạm nghĩa vụ tôn trọng hợp đồng trong điều ước quốc tế đó (umbrella clause). Ngoài ra, một số điều khoản trong hợp đồng đầu tư quốc tế được cho là có tác dụng quốc tế hóa nó (internationalisation) và khiến cho hợp đồng không chỉ đơn thuần thuộc phạm vi điều chỉnh của nội luật mà có thể được xem xét bỏi các cơ chế quốc tế như trọng tài quốc tế.
Dưới đây sẽ phân tích những điều khoản đặc biệt của hợp đồng đầu tư quốc tế, bao gồm: điều khoản trọng tài, điều khoản chọn luật, điều khoản ổn định và điều khoản đàm phán lại.
2. Điều khoản trọng tài
Điều khoản trọng tài phổ biến trong các hợp đồng đầu tư, trong đó có cả hợp đồng giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước tiếp nhận đầu tư.
Ưu điểm của trọng tài khi so sánh với tòa án đã được phân tích rất nhiều, song điều này đồng nghĩa với nước nhận đầu tư từ bỏ quyền miễn trừ tài phán của mình và một số nước vẫn e ngại không chấp nhận việc giải quyết tranh chấp liên quan tới các dự án cơ sở hạ tầng hay khai thác tài nguyên thiên nhiên bằng trọng tài quốc tế. Nếu không có điều khoản trọng tài, tranh chấp hợp đồng đầu tư thường thuộc thẩm quyền của tòa án nưóc nhận đầu tư. Như vậy, nhà đầu tư nước ngoài có thể gặp phải một cơ quan xét xử không thực sự trung lập và ngay cả khi tòa án đưa ra phán quyết có lợi cho họ thì việc đảm bảo thi hành ở nước ngoài cũng sẽ khó khăn. Công ước về công nhận và thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài nêu rõ một số yêu cầu để điều khoản trọng tài trong hợp đồng có thể được đảm bảo thực thi. Theo đó, điều khoản phải được thể hiện dưới dạng văn bản đã được các bên thoả thuận nhất trí.
Ví dụ, Phòng Thương mại quốc tế (ICC) đưa ra điều khoản trọng tài mẫu để các bên đưa vào hợp đồng quốc tế như sau:
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hay liên quan tới hợp đồng này phải được giải quyết theo Quy tắc Trọng tài của Phòng Thương mại quốc tế bởi một hay nhiều hơn trọng tài viên được bầu ra theo Quy tắc đó”.
Ví dụ khác về điều khoản trọng tài trong một hợp đồng thực tế nêu:
“Mọi tranh chấp, bất đồng hay khiếu nại phát sinh từ hoặc liên quan tới Hợp đồng này hay việc vi phạm, chấm dứt, mất hiệu lực của Hợp đồng mà không thể giải quyết một cách hữu nghị phải được giải quyết chỉ bằng trọng tài và có tính chung thẩm, phù hợp với Quy tắc Trọng tài năm 1976 của UNCITRAL có hiệu lực vào thời điểm đó.
Số trọng tài viên phải là ba (3). Họ phải được bầu theo Quy tắc UNCITRAL nói trên. Cơ quan bầu là Phòng Thương mại quốc tế, tiến hành theo các Quy tắc liên quan của nó.
Hội đồng trọng tài phải giải quyết theo pháp luật nội dung của Ănggôla.
Như nêu ở trong pháp luật hiện hành, hội đồng trọng tài phải được thành lập ở Luanda và ngôn ngữ của trọng tài phải là tiếng Bồ Đào Nha.
Các bên nhất trí rằng điều khoản trọng tài này là một sự từ bỏ rõ ràng quyền miễn trừ để phản đối hiệu lực và việc đảm bảo thi hành phán quyết trọng tài hay bất kỳ phán quyết nào dựa trên cơ sở đó và khi phán quyết trọng tài hay phán quyết dựa trên cơ sở đó không được đáp ứng, phải khi được đảm bảo thực thi đốĩ với bị đơn ở bất kỳ tòa án nào có thẩm quyền theo pháp luật của Bị đơn”.
Như vậy, thực tiễn ký kết hợp đồng, đầu tư cho thấy những điều khoản rõ ràng thường bao gồm những nội dung như: thỏa thuận chấp nhận trọng tài bắt buộc, phạm vi áp dụng của thỏa thuận trọng tài, lựa chọn nơi tiến hành trọng tài, cơ quan trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài, ngôn ngữ sử dụng trong trọng tài, các quy định thể thức khác và quy định chọn luật. Để tránh các tranh cãi về quyền miễn trừ quốc gia, điều khoản trọng tài có thể nêu rõ rằng nhà nước tiếp nhận đầu tư đã từ bỏ quyền này. Khi đó, lập luận về quyền miễn trừ sẽ không thể cản trở tố tụng trọng tài hay việc công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài sau đó.
3. Điều khoản chọn luật
Nguyên tắc tôn trọng quyền tự chủ của các bên được sử dụng để đảm bảo hợp đồng đầu tư nước ngoài không phụ thuộc vào pháp luật của quốc gia nhận đầu tư mà có thể bị thay đổi theo ý chí của các bên. Các bên có quyền chọn luật áp dụng với hợp đồng đầu tư quốc tế như trường hợp của hợp đồng quốc tế khác.
Trên cơ sở quyền tự thỏa thuận của các bên, bên nhà đầu tư nước ngoài trong hợp đồng sẽ chọn một hệ thống mà không phải là luật quốc gia của nước nhận đầu tư. Việc chọn pháp luật của một nước khác có thể được lựa chọn để việc điều chỉnh hợp đồng được thực hiện tại một quốc gia khác, trên thực tế có vẻ khó được chấp nhận, vì nó gây cảm giác hệ thống pháp luật của nưốc nhận đầu tư không được tin tưởng.
Bên cạnh đó, sự lựa chọn này sẽ không đem lại kết quả là đưa hợp đồng đầu tư quốc tế vào một hệ thống có thứ tự cao hơn hệ thống pháp luật quốc gia của nước nhận đầu tư. Trong khi đó, hệ thống luật lệ của một nước khác sẽ chỉ có hiệu lực ngang bằng chứ không có thứ tự cao hơn hệ thống pháp luật của quốc gia nhận đầu tư. Trong trường hợp này có thể có giải pháp dung hòa, đó là chọn pháp luật quốc tế để áp dụng cho hợp đồng đầu tư quốc tế.
Một giải pháp cho vấn đề này là lựa chọn một hệ thống các nguyên tắc xuyên quốc gia nào đó không rõ ràng và hình thành các phương thức để xác lập các quy tắc của hệ thốhg này và thường dẫn chiếu đến “nguyên tắc chung của pháp luật”.
Thực tiễn ký kết hợp đồng đầu tư quốc tế cho thấy điều khoản chọn luật có thể quy định việc sử dụng chính nội dung trong hợp đồng, pháp luật nưốc nhận đầu tư và các quy định của luật quốc tế để giải quyết tranh chấp. Pháp luật nước nhận đầu tư chỉ được áp dụng với những vấn đề không quy định hoặc quy định không đầy đủ trong hợp đồng. Tuy nhiên, việc dẫn chiếu tối pháp luật quốc tế có thể gặp những thách thức như quy định tập quán quốc tế mập mờ, không rõ ràng hoặc thiếu. Thậm chí có những lập luận cho rằng, chưa có một bộ phận quy tắc quốc tế áp dụng cho hợp đồng giữa các quốc gia và tổ chức tư của nưốc ngoài (một thực thể không phải chủ thể của pháp luật quốc tế) hay cho rằng hoặc phải xem xét các hệ thống pháp luật quốc gia về dân sự, thương mại và rút ra những quy tắc chung của chúng, tức là theo loại nguồn của luật quốc tế “các nguyên tắc chung của pháp luật”.
=> Như vậy, dù rằng điều khoản chọn luật nhằm làm tăng tính dễ dự đoán của môi trường pháp lý và giảm thiểu rủi ro thay đổi pháp luật ỗ nước tiếp nhận đầu tư, điều khoản này khó áp dụng trên thực tế vì các nguyên tắc chung của pháp luật thường không cụ thể, trong khi đó việc điều chỉnh hợp đồng cần rất chi tiết. Do đó, theo quan điểm của các tác giả cuốn sách này, pháp luật điều chỉnh hợp đồng đầu tư quốc tế nên là pháp luật của quốc gia nhận đầu tư, đặc biệt là trong điều kiện các quốc gia đầu tư cần bảo vệ những lợi ích, giá trị cốt lõi của mình1.
4. Điều khoản ổn định
Điều khoản ổn định, như tên gọi của loại điều khoản này, nhằm ổn định môi trường pháp lý điều chỉnh đầu tư nước ngoài.
Gồm có hai loại điều khoản ổn định: yêu cầu chính phủ nước tiếp nhập đầu tư không được ban hành pháp luật không phù hợp với nội dung của hợp đồng đầu tư hoặc quy định không áp dụng những thay đổi pháp luật như vậy đối với hợp đồng đầu tư kể từ khi hợp đồng có hiệu lực. Thông thường, các quy định pháp luật thay đổi liên quan tới những vấn đề như thuế, môi trường, lao động, sức khỏe và an toàn và các quy định khác.
=> Điều khoản ổn định nhằm bảo đảm rằng những thay đổi về hệ thốhg pháp luật trong tương lai của quốc gia nhận đầu tư sẽ không làm thay đổi các điều khoản của hợp đồng đầu tư quốc tế. Nhà đầu tư nước ngoài có thể gặp rủi ro chính trị khi ký hợp đồng với quốc gia nhận đầu tư, vì xuất phát từ chủ quyền, quốc gia nhận đầu tư có quyền sửa đổi pháp luật và tác động tiêu cực đến hợp đồng đầu tư quốc tế. Thực tế, việc áp dụng các văn bản pháp luật mới ban hành dẫn đến vi phạm điều khoản ổn định có thể dẫn đến tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước nhận đầu tư theo hợp đồng.
Các vụ giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đều khẳng định giá trị pháp lý của điều khoản ổn định và áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nưốc tiếp nhận đầu tư. Trong vụ Texaco Overseas Petroleum Company kiện Libi (TOPCO), Hội đồng trọng tài giải thích rằng khi chấp nhận điều khoản ổn định trong hợp đồng với nguyên đơn, Libi không từ bỏ mà thực chất là đang thực thi chủ quyền của mình. Điều khoản này là cơ sở để Hội đồng kết luận việc quốc hữu hóa bất hợp pháp và yêu cầu Nhà nưốc trả lại tài sản cho nhà đầu tư. Vụ Liamco kiện Libi, Hội đồng trọng tài cũng tuyên bô' việc Libi quốc hữu hóa các quyền khai thác tài nguyên của Liamco vào năm 1973 vi phạm điều khoản ổn định, theo đó “các quyền khai thác tài nguyên quy định rõ trong Hợp đồng này không được thay đổi trừ khi được sự đồng ý của hai bên”. Do vậy, Hội đồng trọng tài yêu cầu Libi phải trả một khoản “bồi thường thỏa đáng” là 80 triệu đôla Mỹ.
=> Như vậy, các hội đồng trọng tài quốc tế đều cho rằng những điều khoản ổn định là hợp pháp và có ràng buộc nhà nước tiếp nhận đầu tư.
5. Điều khoản điều chỉnh, đàm phán lại
Thay thế hoặc bổ sung cho điều khoản ổn định trong hợp đồng đầu tư quốc tế là điều khoản điều chỉnh hoặc đàm phán lại. Loại điều khoản này tạo ra sự bảo vệ cho các bên khi có những hoàn cảnh khác với thời điểm ký kết hợp đồng mà gây ra ảnh hưởng bất lợi cho một bên hay sự mất cân bằng về kinh tế rõ ràng đối với lợi ích của một bên, làm thay đổi cơ bản cơ sở kinh tế, tài chính của hợp đồng. Đây là một cách thức để dự liệu những hoàn cảnh khó khăn, phá vỡ sự cân bằng kinh tế của các bên ký kết có thể xảy ra đôì vổi những hợp đồng có tính chất dài hạn như hợp đồng đầu tư quốc tế.
Khi có những thay đổi như vậy, trong điều khoản điều chỉnh, đàm phán lại các bên cam kết tiến hành đàm phán thay vì nước nhận đầu tư sẽ đơn phương thay đổi điều khoản trong hợp đồng nhằm đạt được giải pháp công bằng, duy trì, khôi phục sự cân bằng về kinh tế của hợp đồng hoặc nhà nước sẽ đền bù cho nhà đầu tư nước ngoài những mất mát, thiệt hại do sự thay đổi của hoàn cảnh gây ra. Ví dụ, một hợp đồng trong vụ trọng tài Burlington Resources Inc. kiện Ecuađo quy định một trường hợp các bên “phải đàm phán lại và sửa đổi hợp đồng” là khi hệ thống thuế áp dụng cho hợp đồng ở nước này bị thay đổi, nhằm mục đích duy trì sự cân bằng kinh tế của Hợp đồng.
6. Điều khoản từ bỏ quyền miễn trừ quốc gia
Các quốc gia được tự do từ bỏ quyền miễn trừ của mình và nếu họ đã có thỏa thuận với nhà đầu tư nước ngoài về việc giải quyết tranh chấp tại một cơ quan xét xử như tòa án, trọng tài quốc tê thì họ không thể viện dẫn quyền miễn trừ xét xử.
Tuy nhiên, điều khoản từ bỏ quyền miễn trừ quốc gia trong hợp đồng đầu tư quốc tế giải quyết vấn đề khó khăn hơn trong thực tiễn là khi đảm bảo thực thi phán quyết của cơ quan xét xử đó bằng việc quy định rõ ràng quốc gia từ bỏ quyền miễn trừ về tài sản.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).