- 1. Điều ước quốc tế
- 1.1. Khái niệm điều ước quốc tế
- 1.2. Điều ước quốc tế trong lĩnh vực hàng hải
- 2. Luật quốc gia
- 2.1. Khái niệm Luật quốc gia
- 2.2. Pháp luật quốc gia trên lĩnh vực hàng hải
- 2.3. Luật hàng hải Việt Nam
- 3. Tập quán hàng hải quốc tế
- 3.1. Khái niệm tập quán quốc tế
- 3.2. Tập quán hàng hải quốc tế
- 4. Các án lệ
1. Điều ước quốc tế
1.1. Khái niệm điều ước quốc tế
Trong các quan hệ của Việt Nam với các nước trên thế giới, nhất là các nước khu vực Đông Nam Á thì điều ước quốc tế là nguồn của Tư pháp quốc tế ngày càng đóng vai trò quan trọng và mang ý nghĩa thiết thực. Đây là các điều ước quốc tế về thương mại và hàng hải quốc tế. Các hiệp định về trao đổi hàng hóa và thanh toán, Hiệp định về hỗ trợ tư pháp dân sự, gia đình và hình sự. Vậy chúng ta cần phải hiểu được thế nào là điều ước quốc tế. Điều ước quốc tế là nguồn được xây dựng bằng các quy phạm, tức là nó được xây dựng bằng các quy phạm chung hoặc quy phạm riêng. Các quy phạm đó quy định quyền và nghĩa vụ đối với các bên của điều ước quốc tế. Bản chất pháp lý của điều ước quốc tế được thể hiện ở chỗ nó thể hiện dung hòa về ý chí, về lợi ích, về các quan điểm của các quốc gia hoặc các chủ thể khác của luật pháp quốc tế. Điều ước quốc tế đã tạo cơ sở pháp lý cho các quan hệ pháp lý quốc tế. Như vậy, điều ước quốc tế là thỏa thuận giữa các chủ thể của luật quốc tế, trong đó việc ký kết, hiệu lực và chấm dứt hiệu lực của nó được điều chỉnh bằng luật quốc tế.b, Tên gọi của điều ước quốc tế. Điều ước quốc tế là thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và các chủ thể luật quốc tế và được luật quốc tế điều chỉnh, không phụ thuộc vào việc thỏa thuận đó được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hay hai hoặc nhiều văn kiện có quan hệ với nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của những văn kiện đó.
Điều ước quốc tế là tên khoa học pháp lý chung để chỉ các văn bản pháp luật quốc tế do hai hay nhiều chủ thể luật quốc tế ký kết. Trong từng quan hệ điều ước quốc tế cụ thể, điều ước có thể được gọi bằng rất nhiều tên gọi khác nhau như hiệp ước, hiệp định, công ước, hiến chương, quy chế. Luật điều ước quốc tế cũng như pháp luật của mỗi quốc gia đều không có những quy định cụ thể nhằm ấn định rõ tên gọi cho từng loại điều ước. Trong thực tiễn có những điều ước có cùng nội dung và tính chất giữa các văn bản điều ước này lại có thể có tên gọi khác nhau. Việc xác định tên gọi cụ thể cho một điều ước hoàn toàn do các chủ thể ký điều ước đó thỏa thuận quyết định
1.2. Điều ước quốc tế trong lĩnh vực hàng hải
Điều ước quốc tế vừa là phương tiện, vừa là công cụ quan trọng điều chỉnh các quan hệ pháp lý quốc tế. Trong lý luận và thực tiễn của khoa học pháp lý quốc tế, điều ước quốc tế là nguồn cơ bản của công ước quốc tế và cũng là nguồn quan trọng của tư pháp quốc tế và trong lĩnh vực luật hàng hải quốc tế nó có một vị trí đặc biệt. Vị trí đặc biệt này thể hiện ở chỗ:
Có thể nói là số lượng các điều ước trong lĩnh vực hàng hải quốc tế là rất nhiều so với các lĩnh vực khác và nó có đặc điểm là liên quan chặt chẽ đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau như luật thương mại quốc tế, luật bảo hiểm quốc tế, luật môi trường quốc tế, luật hành chính và luật hình sự quốc tế. Một số lượng không nhỏ các điều ước quốc tế trong lĩnh vực hàng hải quốc tế có mục tiêu thống nhất pháp luật hàng hải của các quốc gia và chúng thường được áp dụng trực tiếp cho mọi hoạt động, duy trì và thông thương hàng hải quốc tế bình thường. Các điều ước trong lĩnh vực hàng hải có tác động và ảnh hưởng tích cực đến việc xây dựng pháp luật hàng hải của các quốc gia, nhất là đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển
Ở Việt Nam việc tham gia các điều ước quốc tế là một việc hệ trọng trong công tác xây dựng văn bản pháp luật và được nhà nước đặc biệt quan tâm. Năm 2005, Quốc hội CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế thay thế cho pháp luật 1998. Đồng thời với việc ban hành pháp luật chúng ta cũng tham gia các công ước về Luật điều ước quốc tế như Công ước viên 1969 vào năm 2001 có hiệu lực đối với Việt Nam. Việc ban hành pháp luật cũng như tham gia các công ước chúng tô Việt Nam rất coi trọng việc tham gia các điều ước và tuân thủ việc thực hiện các cam kết được ghi nhận tng đó. Điều ước quốc tế trog lĩnh vực hàng hải quốc tế thường là các điều ước thành lập các tổ chức, các hiệp hội hoặc các liên đoàn vận chuyển đường biển quốc tế; sau đó trong các khuôn khổ của các tổ chức này có thể kí kết hoặc ban hành hàng loạt các văn bản pháp lý quốc tế về hoạt động hàng hải giữa các quốc gia thành viên và giữa các tổ chức với các quốc gia nhằm tạo hành lang pháp luật thống nhất cho các công tác hoạt động hàng hải hữu hiệu phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế ngoại thương của các nước. Sau đây là một số điều ước quốc tế về hàng hải quan trọng:
+ Công ước của LHQ về luật biển 1982
+ Các quy tắc của Ủy ban Hàng hải quốc tế (CMI) tắc UNCITRAL (của LHQ)
+ Các quy tắc của UNCTAD (của LHQ)
+ Các công ước trong khuôn khổ Tổ chức Hàng hải quốc tế
+ Các công ước quốc tế của Hội đồng hàng hải quốc tế (BRUSSELS)
2. Luật quốc gia
2.1. Khái niệm Luật quốc gia
Luật quốc gia là loại nguồn khá phổ biến của Tư pháp quốc tế so với các loại nguồn luật khác. Luật pháp của mỗi quốc gia được hiểu là một hệ thống văn bản pháp quy của một quốc gia bao gồm Hiến pháp luật và các văn bản dưới luật cùng với những tập quán và án lệ, thực tiễn tư pháp.
Ở các nước như Hungary, Ba Lan, Áo, Thụy Sĩ, Séc, Slovakia, Nam Tư cũ ban hành hệ thống pháp luật của mình Bộ luật tư pháp quốc tế. Khác với các nước này, các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc tế của Việt Nam không nằm ở một văn bản mà nằm rải rác ở các văn bản pháp quy khác nhau ở nhiều nghành luật khác nhau.
2.2. Pháp luật quốc gia trên lĩnh vực hàng hải
Hầu hết các quốc gia có biển và thậm chí cả những quốc gia không có biển đã ban hành các văn bản pháp quy điều chỉnh hoạt động hàng hải. Đó là các luật và các văn bản dưới luật tạo thành một hệ thống các quy phạm quy định cho các hoạt động hàng hải và vận chuyển hàng hóa bằng đường biển. Ở các nước khác nhau có các cách thức ban hành hệ thống văn bản khác nhau, thường là một đạo luật chung quản lý nhà nước về hàng hải, còn các vấn đề liên quan có thể ban hành luật hoặc các quy định trong các luật liên quan. Đây là đặc điểm về kỹ thuật lập pháp của các nước trên thế giới có khác nhau.
Pháp luật hàng hải ở mỗi quốc gia chịu ảnh hưởng bởi vị trí địa lý biển, trình độ phát triển hàng hải như đội tàu, chính sách nhà nước. Những quốc gia có hệ thống pháp luật hàng hải phát triển thường là các quốc gia hội tụ đầy đủ các yếu tố trên. Tại Vương quốc Anh, pháp luật hàng hải được quy định chủ yếu trong Luật chuyên chở hàng hóa bằng đường biển ban hành năm 1924 và luật này được thay bằng luật chuyên chở hàng hóa bằng đường biển ban hành năm 1971. Những quy định của luật 1924 vẫn có ảnh hưởng lớn trong xã hội và ở Anh các án lệ dược áp dụng song song với luật. Tại Mỹ, hiện nay đang tồn tại và duy trì ba đạo luật liên bang, mỗi luật điều chỉnh một lĩnh vực hàng hải quan trọng.
Nhìn chung, hệ thống luật Anh- Mỹ (common law) là hệ thống luật án lệ áp dụng chủ yếu các thực hành xét xử và các tập quán hàng hải có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành luật hàng hải quốc tế và luật của một số quốc gia là thuộc địa của Anh trước đây. Pháp luật hàng hải Việt Nam cũng tiếp thu được khá nhiều những kinh nghiệm từ truyền thống được rút ra từ hệ thống pháp luật hàng hải Anh.
Đặc biệt là ở các nước Bắc Âu như Na –Uy, Thụy Điển, Phần Lan...chấp nhận thông qua một số bộ luật hàng hải chung có hiệu lực vào năm 1994. Có lẽ do các nước này vẫn nằm trong khu vực địa lý biển, trình độ hàng hải tương đương nhau và có hệ thống cảng biển liên kết với nhau rất chặt chẽ. Các quốc gia khác nhau như ở Nhật Bản, Philipin, các quy định về hoạt động hàng hải đầu tiên được ban hành trong cùng với Bộ luật từ năm 1899 trong đó dành riêng quyền 4 quy định về các vấn đề về hoạt động thương mại hàng hải. Luật chuyên chở hàng hóa của Nhật Bản được ban hành vào năm 1949 và Luật chuyên chở hàng hóa bằng đường biển của Nhật Bản được ban hành 1957. Bộ luật thương mại và hàng hải của Philipin năm 1888 và các vấn đề thương mại hàng hải dược dành riêng quy định trong quyền 3 của Bộ luật. Trên thế giới trong lĩnh vực hàng hải đang diễn ra sự phân hóa theo hai xu hướng cơ bản:
+ Thống nhất hóa luật hàng hải trên cơ sở hài hòa hai hệ thống quy tắc Hague-Visby và hệ thống quy tắc Hamburg,
+ Theo một xu hướng độc lập mà không phụ thuộc vào hai hệ thống trên.
2.3. Luật hàng hải Việt Nam
Từ năm 1990 trở về trước, các hoạt động hàng hải quốc tế ở nước ta chủ yếu là do các văn bản dưới luật điều chỉnh. Đó là các văn bản do chính phủ ban hành và các bộ, ngành liên quan ra các thông tư thực hiện. Ví dụ như: Tuyên bố của Hội đồng chính phủ về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vũng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ngày 12/05/1977 Nghị quyết số 30-CP của Hội đồng chính phủ về quy chế cho tàu, thuyền nước ngoài hoạt động trên vùng biển của Việt Nam ngày 29/01/1980 Tuyên bố của Chính phủ về đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam ngày 12/11/1982.
Ngoài ra các văn bản của Chính phủ và Bộ giao thông ban hành nhiều nghị định và điều lệ, thông tư và các văn bản hướng dẫn thi hành về hoạt động hàng hải trong những thập niên 70 và 80 vẫn còn nguyên giá trị, chỉ sau khi Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành Bộ luật hàng hải 1990 thì các văn bản trên mới không còn giá trị. Năm 1990, Quốc hội thông qua và ban hành Bộ luật hàng hải Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01/01/1991. Bộ luật này thay thế cho các văn bản pháp lý về hoạt động hàng hải trước đó, khẳng định một bước tiến dài của Việt Nam trong quá trình pháp điển hóa pháp luật hàng hải trên con đường hội nhập với hàng hải quốc tế. Năm 2005, Quốc hội sửa đổi, bổ sung và ban hành Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005 nhằm nhanh chóng đưa luật hàng hải Việt Nam có đủ các điều kiện hội nhập vào ngành vận chuyển biển quốc tế thuận tiện nằm trên hành lang vận chuyển hàng hải quốc tế. Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005 đã xây dựng được một hệ thống các nguyên tắc và quy phạm điều chỉnh hoạt động hàng hải trong nước và quốc tế của Việt Nam nhằm mục tiêu hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
3. Tập quán hàng hải quốc tế
3.1. Khái niệm tập quán quốc tế
Tập quán quốc tế là những quy tắc xử sự được hình thành trong một thời gian dài, được áp dụng khá liên tục và một cách có hệ thống, đồng thời được thừa nhận đông đảo của các quốc gia. Tập quán quốc tế đôi khi vừa là nguồn của Tư pháp quốc tế vừa là nguồn của Công pháp quốc tế. Các luật gia nổi tiếng trên thế giới đều cho rằng điểm khác biệt cơ bản giữa tập quán với luật pháp là ở chỗ quá trình hình thành tập quản, việc áp dụng có hệ thống và tính thừa nhận rộng rãi nhưng lại không được ghi nhận ở đâu cả ( thường gọi là luật bất thành văn). Phụ thuộc vào tính chất và giá trị hiệu lực của tập quán quốc tế mà có thể chia tập quán ra thành các loại sau:
+ Tập quán mang tính chất nguyên tắc: Tập quán nguyên tắc là nền tảng chung, là cơ bản và có tính chất bao trùm. Nó là cơ sở của chủ quyền và bình đẳng giữa các quốc gia và có giá trị bắt buộc chung với các quốc gia.
+ Tập quán mang tính chất chung: Tập quán quốc tế chung là tập quán được nhiều nước thừa nhận và áp dụng rộng rãi mọi nơi trên thế giới. Có thể như các điều kiện giao dịch thương mại quốc tế mà Phòng thương mại quốc tế tập hợp và soạn thảo từ năm 1936, 1980, 2000 và 2010, gọi tắt là Incoterms, là tập hợp các tập quán thương mại quốc tế khác nhau trong đó quy định các điều kiện mua bán, bảo hiểm, cước vận tải, trách nhiệm giữa các bên tham gia hợp đồng như FOB, CIF, CFR... được rất nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận và sử dụng trong hoạt động thương mại.
+ Tập quán mang tính chất khu vực: Tập quán khu vực là các tập quán được sử dụng ở từng khu vực, từng nước, thậm chí từng cảng biển riêng biệt hoặc cảng hàng không riêng biệt ở mỗi quốc gia. Tập quán quốc tế chung và tập quán khu vực chỉ có giá trị pháp lý ràng buộc các quốc gia khi được các quốc gia thừa nhận hoặc chấp nhận ràng buộc đối với mình.
3.2. Tập quán hàng hải quốc tế
Tập quán hàng hải là thói quen hàng hải được lặp đi lặp lại nhiều lần, được nhiều nước công nhận và áp dụng liên tục đến mức nó trở thành một quy tắc mà các bên mặc nhiên tuân theo. Hiện nay có rất nhiều tập quán hàng hải quốc tế đã được pháp điển hóa vào trong các điều ước quốc tế hoặc trong pháp luật của các quốc gia. Ví dụ như quyền đi qua không gây hại và nguyên tự do biển cả trước đây là những tập quán hàng hải tiêu biều, nay được ghi nhận trong các điều cơ bản của Công ước quốc tế về luật biển năm 1982 của LHQ. Đây là những hành vi xử sự văn minh trong hoạt động hàng hải được tất cả quốc gia thừa nhận và áp dụng lâu dài.
Các tập quán hàng hải ngày nay thường được áp dụng trong các trường hợp của hợp đồng vận chuyển bằng đường biển quốc tế khi không có luật áp dụng hoặc khi quy định chưa đầy đủ. Điều 4 Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005 cho phép hợp đồng mà có một bên là bên nước ngoài được thỏa thuận áp dụng tập quán hàng hải quốc tế hoặc thỏa thuận chọn tòa án hay trọng tài nước ngoài giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng.
4. Các án lệ
Án lệ được hiểu là các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật do tòa án hoặc cơ quan trọng tài ban hành. Tuy nhiên cho đến nay, pháp luật Việt Nam nói chung cũng như pháp luật hàng hải Việt Nam nói riêng cũng chỉ mới thừa nhận nguồn của luật bao gồm: các văn bản pháp luật do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam ban hành, các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia và các tập quán quốc tế dược Việt Nam thừa nhận. Án lệ chưa được coi là nguồn luật nói chung cũng như nguồn của luật hàng hải nói riêng.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập).