- 1. Thế bào là thủ tục rút gọn?
- 2. Những điểm mới về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong BLTTHS 2015
- 3. Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang hoặc người đó tự thú
- 4. Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng
- 5. Sự việc phạm tội là sự việc ít nghiêm trọng
- 6. Người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng
1. Thế bào là thủ tục rút gọn?
Thủ tục rút gọn là một dạng đặc biệt của tố tụng hình sự, trong đó có sự giảm lược bớt một số khâu, một số thủ tục không cần thiết trong việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự nhằm rút ngắn thủ tục tố tụng, làm cho việc xử lý vụ án được nhanh chóng hơn nhưng vẫn đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm kịp thời, có hiệu quả, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
2. Những điểm mới về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong BLTTHS 2015
Điều 319 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định 04 điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm gồm:
- Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang;
- Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng;
- Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng;
- Người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng.
Thực tiễn áp dụng các điều kiện của thủ tục rút gọn không phát sinh nhiều khó khăn vướng mắc nên không cần sửa đổi, bổ sung nhiều. Tuy nhiên, có một sự trùng lặp trong điều kiện thứ tư là: “người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng” bởi vì “căn cước” và “lai lịch” đều có nội dung phản ánh về đặc điểm nhân thân của người thực hiện hành vi phạm tội, nhưng chưa phản ánh được thông tin về nơi cư trú. Đây cũng là điều kiện để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án rút gọn được nhanh chóng, đồng thời là cơ sở để xem xét áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc miễn chấp hành hình phạt cho hưởng án treo. Vì vậy, điểm d khoản 1 Điều 456 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã có sửa đổi: “người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng". Đồng thời, Điều luật này cũng có một sự bổ sung quan trọng theo hướng mở rộng các trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn, đó là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội ra tự thú (điểm a khoản 1 Điều 456 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).
Theo quy định tại khoản 1 Điều 456 BLTTHS 2015, thủ tục rút gọn được áp dụng nếu có đủ các điều kiện:
- Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang hoặc người đó tự thú;
- Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng;
- Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng;
- Người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng.
Như vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cho phép áp dụng thủ tục rút gọn trong hai trường hợp là người có hành vi phạm tội bị bắt quả tang hoặc người đó ra tự thú khi thỏa mãn 03 điều kiện còn lại.
Do thủ tục rút gọn được áp dụng ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, vì vậy, Điều 456 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định bổ sung điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn này. Thủ tục rút gọn được áp dụng trong xét xử phúc thẩm khi có một trong các điều kiện sau:
- Vụ án đã được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo;
- Vụ án chưa được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm nhưng có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 456 và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo.
Như vậy, có 02 trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn ở cấp phúc thẩm; trường hợp thứ nhất là vụ án đã được áp dụng thủ tục rút gọn từ giai đoạn xét xử sơ thẩm nhưng sau đó có kháng cáo, kháng nghị xin giảm nhẹ hình phạt hoặc xin được hưởng án treo; trường hợp thứ hai là vụ án chưa được áp dụng thủ tục này nhưng ở giai đoạn phúc thẩm thấy có đủ điều kiện áp dụng thì Tòa án quyết định. Điều kiện áp dụng là vụ án phải thỏa mãn 04 điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 456 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 kèm theo một trong hai điều kiện kháng cáo, kháng nghị giảm hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo. Như vậy, trong giai đoạn phúc thẩm phải có 05 điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn.
3. Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang hoặc người đó tự thú
Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang hoặc người đó tự thú là điều kiện đầu tiên để áp dụng thủ tục rút gọn.
Để được xem là đáp ứng điều kiện đầu tiên này, phải thỏa mãn một trong hai trường hợp, một là người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang hoặc hai là người thực hiện hành vi phạm tội tự thú. Đây là điều kiện đầu tiên để có thể xem xét áp dụng thủ tục rút gọn bởi tính chất rõ ràng, đơn giản về mặt chứng cứ và chứng minh, do đó, vụ án được xem là có căn cứ để giải quyết nhanh chóng và chính xác.
Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang là người bị bắt khi đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi phạm tội mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt. Việc bị bắt hay bị phát hiện, đuổi bắt ở đây được hiểu là có thể do người đang thực thi nhiệm vụ bắt hoặc bị người dân bắt được sau khi thực hiện hành vi phạm tội. Đặc điểm của phạm tội quả tang là hành vi phạm tội cụ thể, rõ ràng, có thể nhận biết ngay đó là tội phạm mà chưa cần điều tra, xác minh. Người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang thường nhận tội ngay, chứng cứ tương đối đầy đủ, người làm chứng, bị hại cũng thường được xác định cụ thể. Đây là điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc chứng minh sự thật vụ án.
Được coi là người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang nếu thuộc một trong ba trường hợp sau:
Trường hợp 1: Người đang thực hiện hành vi phạm tội thì bị phát hiện. Tức là người phạm tội đang thực hiện hành vi được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm cụ thể. Trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu tội mà BLHS quy định phải chịu trách nhiệm hình sự ở giai đoạn này thì cũng được coi là phạm tội quả tang.
Trường hợp 2: Ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội mà bị phát hiện. Đây là trường hợp người phạm tội đã thực hiện xong hành vi phạm tội, các hành vi khách quan đã được thực hiện hết, đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu pháp lý của tội phạm và tội phạm vừa được thực hiện xong nhưng chưa kịp tẩu thoát hoặc cất giấu phương tiện, công cụ phạm tội thì bị phát hiện và bắt giữ.
Trường hợp 3: Đang bị đuổi bắt, đây là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội thì bị phát hiện, bỏ chạy và bị bắt. Với trường hợp này, cần lưu ý về tính liên tục từ thời điểm phát hiện hành vi phạm tội - người phạm tội bỏ chạy và quá trình đuổi bắt. Mặc dù không phụ thuộc vào thời gian và cự ly đuổi bắt dài hay ngắn, nhưng việc đuổi bắt đó phải là liên tục, nếu có sự gián đoạn về thời gian thì không được coi là bắt quả tang.
Người phạm tội tự thú được hiểu là người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hay người phạm tội bị phát hiện. Việc bổ sung này phản ánh yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và phát huy ý nghĩa của việc áp dụng thủ tục rút gọn. Bởi vì, việc quy định điều kiện liên quan đến người phạm tội không nhằm mục đích nào khác là dễ dàng điều tra, truy tố, xét xử vụ án vì khi đó, các tài liệu, chứng cứ để chứng minh các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự đã có thể xác định ngay thời điểm xác định được dấu hiệu này, rút ngắn thời gian điều tra vụ án.
4. Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng
Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng là điều kiện thứ hai để áp dụng thủ tục rút gọn.
Sự việc phạm tội được coi là đợn giản khi có ít người phạm tội, việc giải quyết vụ án không liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, hành vi phạm tội rõ ràng, cơ quan tiến hành tố tụng dễ xác định người phạm tội, nhân thân người phạm tội và hành vi phạm tội. Hoặc cũng có thể hiểu phạm tội đơn giản là:
- Sự việc mà các tình tiết cần chứng minh là không phức tạp và dễ xác định. Các tình tiết của hành vi phạm tội đơn giản, vụ án thường ít bị cáo hoặc có thể nhiều nhưng không phải phạm tội có tổ chức hoặc đồng phạm phức tạp, khó xác định vai trò, vị trí của từng đối tượng.
- Người thực hiện tội phạm thông thường là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lỗi của người đó là lỗi cố ý, dễ xác định.
- Mục đích phạm tội thường là lợi ích vật chất, động cơ vụ lợi tức thời, dễ xác định.
- Việc giải quyết các sự việc phạm tội này cũng không liên quan đến chính sách dân tộc, tôn giáo, phong tục tập quán hay các vấn đề xã hội phức tạp.
Chứng cứ rõ ràng được hiểu là chứng cứ thu thập ngay tại thời điểm người phạm tội bị bắt quả tang bao gồm những tang vật được thu tại hiện trường hoặc những chứng cứ được thu thập đầy đủ ngay từ đầu qua lời khai của bị hại, người chứng kiến.
5. Sự việc phạm tội là sự việc ít nghiêm trọng
Sự việc phạm tội là sự việc ít nghiệm trọng là điều kiện thứ ba để áp dụng thủ tục rút gọn.
Việc phân loại tội phạm theo quy định của BLHS nước ta chủ yếu căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và mức cao nhất của khung hình phạt có thể áp dụng đối với hành vi phạm tội đó chứ không phân loại theo mức độ đơn giản hay phức tạp của hành vi phạm tội. Theo quy định của BLHS, tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội đó là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù không quá 03 năm.
Như vậy, dấu hiệu nội dung chính trị - xã hội của loại tội này là tính nguy hại không lớn cho xã hội, dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lý có thể phải chịu của người phạm tội là không lớn nên việc xử lý có thể nhanh chóng, dễ dàng hơn và nếu trong trường hợp việc xử lý không chính xác thì hậu quả cũng không đến mức nghiêm trọng so với các loại tội phạm khác.
6. Người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng
Người phạm tội có nơi cư trú, lỹ lịch rõ ràng là điều kiện thứ tư để áp dụng thủ tục rút gọn.
Người phạm tội có nơi cư trú, lai lịch rõ ràng là người phạm tội có nơi ở ổn định, đã được xác định và có lý lịch đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận là rõ ràng, không mất thời gian xác minh. Nơi cư trú, lý lịch của người phạm tội là vấn đề cần làm rõ trong khi giải quyết vụ án. Qua việc xác định nơi cư trú và lý lịch của người phạm tội, cơ quan tiến hành tố tụng có thể làm rõ được nhiều yếu tố về nhân thân của người đó, trên cơ sở đó đưa ra những nhận định, kết luận đúng đắn trong việc định tội và quyết định hình phạt, như việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng được coi là điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn vì các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ không mất nhiều thời gian để điều tra xác minh nên có thể rút ngắn thời gian giải quyết vụ án mà vẫn đảm bảo cho việc xem xét, giải quyết những vấn đề của vụ án được chính xác. Ngược lại, nếu nơi cư trú, lý lịch của người phạm tội không rõ ràng thì không được phép áp dụng thủ tục rút gọn.