1. Tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên từ 01 tháng đến 03 tháng
Tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên trong khoảng thời gian từ tháng 01 đến tháng 03, nhằm xử lý những hành vi vi phạm các quy định được nêu tại mục 3 Điều 13; điểm b và d mục 3 Điều 14; điểm c, đ, i, m và q mục 3, điểm d mục 4 Điều 15 của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP:
(i) Cụ thể, khi xác định một di chúc bị vi phạm các quy tắc pháp luật, vi phạm đạo đức xã hội, hoặc không tuân theo quy định hợp pháp;
(ii) Khi di chúc được công chứng trong tình huống người lập di chúc rõ ràng bị tâm thần hoặc mắc phải tình trạng không thể nhận thức hoặc kiểm soát hành vi của mình; hoặc khi có cơ sở cho rằng di chúc có khả năng bị lừa dối, đe dọa hoặc ép buộc; người lập di chúc chưa đạt độ tuổi theo quy định hoặc không có sự đồng thuận từ cha mẹ hoặc người giám hộ;
(iii) Trường hợp di chúc không được ký bởi chính người lập di chúc hoặc không được người lập chỉ đến cụ thể trong yêu cầu công chứng;
(iv) Khi công chứng các văn bản thỏa thuận chia tài sản, văn bản thừa nhận di sản mà không có chứng nhận chứng tử hoặc tư liệu khác xác minh việc người để lại di sản hoặc người thừa kế đã qua đời (nếu có); không có di chúc trong trường hợp thừa kế theo di chúc; không có chứng từ liên quan đến mối quan hệ thừa kế theo quy định pháp luật;
(v) Trong tình huống di sản bao gồm quyền sử dụng đất hoặc tài sản khác mà yêu cầu công chứng phải xác minh quyền sử dụng, quyền sở hữu, nhưng người yêu cầu không có tài liệu chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản;
(vi) Khi công chứng các văn bản thỏa thuận chia tài sản, văn bản thừa nhận di sản với căn cứ rằng việc để lại hoặc thụ hưởng di sản không tuân theo pháp luật, ngoại trừ các trường hợp được quy định tại mục (iv), (vi);
(vii) Khi công chứng văn bản từ chối thừa kế dựa trên cơ sở người thừa kế từ chối để tránh trách nhiệm tài sản của họ đối với người khác;
(viii) Khi công chứng văn bản từ chối thừa kế mà không có giấy chứng tử hoặc tài liệu khác chứng minh người để lại di sản đã qua đời hoặc không có di chúc trong trường hợp thừa kế theo di chúc hoặc không có chứng từ chứng minh mối quan hệ giữa người để lại di sản và người yêu cầu công chứng trong trường hợp thừa kế theo pháp luật.
(ix) Khi công chứng bản dịch liên quan đến tài sản hoặc lợi ích của bản thân, hoặc của những người thân như vợ chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, con cái đẻ hoặc nuôi, ông bà nội ngoại, anh chị em ruột hoặc không ruột của vợ chồng, cháu chắt;
(x) Khi công chứng bản dịch do người phiên dịch không phải là cộng tác viên của tổ chức hành nghề công chứng mà họ đang làm việc;
(xi) Khi không tiến hành kiểm tra, so sánh bản chính giấy tờ trong hồ sơ công chứng theo quy định trước khi thực hiện lời chứng và ký vào từng trang của hợp đồng hoặc giao dịch;
(xii) Không chứng kiến quá trình người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch ký hoặc chỉ vào hợp đồng hoặc giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có điểm quy định khác;
(xiii) Không tham gia quản lý hoạt động doanh nghiệp ngoài lĩnh vực hành nghề công chứng; không tham gia môi giới hoặc đại lý; không chia lợi nhuận từ hợp đồng hoặc giao dịch mà họ đã công chứng;
(xiv) Khi công chứng hợp đồng hoặc giao dịch vượt quá thẩm quyền đại diện của người ký kết;
(xv) Khi công chứng hợp đồng hoặc giao dịch mà không có căn cứ xác định rõ quyền sử dụng riêng, quyền sở hữu riêng đối với tài sản liên quan trong quá trình tham gia hợp đồng hoặc giao dịch.
2. Tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên từ 03 tháng đến 06 tháng
- Khi có hành vi sử dụng hồ sơ cá nhân của một công chứng viên mà không có sự đồng ý bằng văn bản của công chứng viên đó để đưa vào hồ sơ đề nghị thành lập văn phòng công chứng.
- Trong trường hợp quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên của người khác được sử dụng hoặc sử dụng để thành lập văn phòng công chứng, hoặc để bổ sung thành viên hợp danh của văn phòng công chứng.
- Đối với những tình huống liên quan đến công chứng bản dịch, chúng tôi sẽ tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên khi có dấu hiệu mục đích hoặc nội dung của bản dịch vi phạm pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội.
- Chúng tôi sẽ áp dụng biện pháp tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên trong trường hợp công chứng bản dịch mà công chứng viên biết hoặc nên biết rằng bản chính được cấp sai thẩm quyền hoặc không hợp lệ, hoặc là bản chính giả. Đồng thời, nếu văn bản cần dịch thuộc loại giấy tờ, văn bản bí mật nhà nước hoặc bị cấm phổ biến theo quy định, việc tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên cũng sẽ được áp dụng.
- Trường hợp công chứng bản dịch không có bản chính hoặc không chính xác với nội dung của giấy tờ, văn bản cần dịch cũng sẽ đưa ra xem xét tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên.
- Đối với việc chứng thực chữ ký, chúng tôi sẽ áp dụng biện pháp tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên trong trường hợp người yêu cầu chứng thực không ký trước mặt người thực hiện chứng thực hoặc không ký trước mặt người tiếp nhận hồ sơ chứng thực chữ ký.
- Khi không ghi lời chứng trong văn bản chứng thực, chúng tôi sẽ xem xét áp dụng biện pháp tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên.
- Cuối cùng, việc nhận, đòi hỏi tiền hoặc lợi ích khác từ người yêu cầu chứng thực ngoài phí, chi phí chứng thực đã được niêm yết cũng sẽ là cơ sở để chúng tôi áp dụng biện pháp tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên.
3. Tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên từ 06 tháng đến 09 tháng
Bị tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên trong khoảng thời gian từ 06 tháng đến 09 tháng, do vi phạm các quy định tại nhiều điểm khác nhau trong văn bản quy phạm, bao gồm các điểm a, b, c, đ, e, g, i, k, l, m, n, o, p, q và r tại khoản 4, cùng các điểm c và d tại khoản 6 của Điều 15, cùng với các điểm a, b, c, d, e và g tại khoản 4 của Điều 34 trong Nghị định 82/2020/NĐ-CP.
Cụ thể, các hành vi bị nêu rõ trong văn bản bao gồm:
- Thực hiện việc công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở, trừ trường hợp các trường hợp cụ thể như công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản là bất động sản và văn bản ủy quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền đối với bất động sản;
- Công chứng các hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản, lợi ích cá nhân hoặc của những người có mối quan hệ thân thiết như vợ, chồng; cha mẹ ruột, cha mẹ nuôi; cha mẹ của vợ hoặc chồng; con cái ruột, con cái nuôi, con dâu, con rể; ông bà nội, ông bà ngoại; anh chị em ruột; anh chị em ruột của vợ hoặc chồng; cháu chắt là con của con cái ruột, con cái nuôi;
- Chia sẻ thẻ công chứng viên với người khác để họ thực hiện công việc công chứng;
- Công chứng việc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng mà không tuân thủ quy định tại tổ chức công chứng đã thực hiện việc công chứng hợp đồng, giao dịch hoặc tổ chức công chứng đang lưu giữ hồ sơ công chứng, trừ trường hợp có quy định khác theo luật;
- Thực hiện việc công chứng cho các hợp đồng, giao dịch trong trường hợp không có căn cứ xác định quyền sử dụng hoặc sở hữu tài sản khi tham gia vào hợp đồng, giao dịch, ngoại trừ những trường hợp vi phạm quy định tại điểm q khoản 3 của Điều 15 trong Nghị định 82/2020/NĐ-CP;
- Thực hiện công việc công chứng liên quan đến các hợp đồng, giao dịch vi phạm pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội; khuyến khích hoặc tạo điều kiện cho người tham gia hợp đồng, giao dịch thực hiện giao dịch giả mạo hoặc hành vi lừa dối khác;
- Nhận hoặc yêu cầu tiền hoặc lợi ích khác từ người thứ ba để thực hiện hoặc không thực hiện việc công chứng, gây tổn thất cho người yêu cầu công chứng và những cá nhân, tổ chức có liên quan;
- Ép buộc người khác sử dụng dịch vụ công chứng; hợp tác, cùng có ý với người yêu cầu công chứng và những người có liên quan để thay đổi nội dung của văn bản công chứng, hồ sơ công chứng;
- Áp đặt áp lực, đe dọa hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức xã hội để thuận lợi cho bản thân hoặc tổ chức trong việc thực hiện công việc công chứng;
- Sử dụng thông tin từ việc công chứng để xâm hại quyền lợi hợp pháp của cá nhân hoặc tổ chức;
- Công chứng mà không có người làm chứng trong trường hợp người yêu cầu công chứng không có khả năng đọc hoặc nghe hoặc ký tên, chỉ được hoặc trong các trường hợp khác do luật định;
- Trả hoa hồng, giảm giá cho người yêu cầu công chứng hoặc cho người môi giới;
- Công chứng hợp đồng, giao dịch khi không có bản chính giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu công chứng theo quy định của pháp luật;
- Thực hiện công chứng đối với tài sản khi tài sản đó đã bị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền ngăn chặn;
- Hoạt động tại hai hoặc nhiều hơn tổ chức công chứng hoặc kết hợp công việc thường xuyên khác, trừ trường hợp được quy định tại điểm i khoản 3 của Điều 15 trong Nghị định 82/2020/NĐ-CP;
- Công chứng hợp đồng, giao dịch mà thiếu chữ ký của tất cả các bên tham gia hợp đồng, giao dịch;
- Tham gia đóng góp vốn, nhận góp vốn để thành lập, duy trì tổ chức và hoạt động văn phòng công chứng không tuân thủ quy định.
- Chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản đã bị tẩy xóa, sửa chữa, thêm bớt nội dung không hợp lệ; hoặc khi bản chính bị hỏng hóc, cũ nát, không xác định được nội dung;
- Chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản cấp bởi cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của một quốc gia ngoài, được công chứng hoặc chứng nhận mà chưa được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ khi có quy định miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo luật, theo nguyên tắc có đi, có lại;
- Chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản có dấu ấn bảo mật của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc không có dấu ấn bảo mật nhưng ghi rõ không được sao chép;
- Chứng thực bản sao từ bản chính giấy tờ, văn bản do cá nhân tự lập mà không có sự xác nhận và dấu ấn của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;
- Thực hiện việc chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản có nội dung hợp đồng, giao dịch, trừ trường hợp có quy định khác theo luật;
- Chứng thực chữ ký có liên quan đến tài sản, lợi ích của bản thân hoặc của những người có mối quan hệ thân thiết như vợ, chồng; cha mẹ ruột, cha mẹ nuôi; cha mẹ của vợ hoặc chồng; con cái ruột, con cái nuôi, con dâu, con rể; ông bà nội, ông bà ngoại; anh chị em ruột; anh chị em ruột của vợ hoặc chồng; cháu chắt là con của con cái ruột, con cái nuôi của người thực hiện chứng thực.
4. Tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên từ 09 tháng đến 12 tháng
Theo quy định tại khoản 5 của Điều 34 trong Nghị định 82/2020/NĐ-CP, chúng tôi thông báo về việc áp dụng biện pháp tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên trong một khung thời gian linh hoạt, kéo dài từ 09 tháng đến 12 tháng. Điều này nhằm đảm bảo sự thấu hiểu, minh bạch và sự phù hợp với mức độ cũng như tính chất của các hành vi vi phạm.
Thông qua việc tiến hành phân tích chi tiết, chúng tôi sẽ thực hiện áp dụng biện pháp tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên trong các trường hợp sau đây:
- Khi chứng thực bản sao từ bản chính hoặc chữ ký trong giấy tờ, văn bản có nội dung vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội. Các hành vi tuyên truyền, kích động chiến tranh, chống chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xuyên tạc lịch sử của dân tộc Việt Nam, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân và tổ chức, cũng như vi phạm quyền công dân đều sẽ là cơ sở để chúng tôi thực hiện tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên.
- Trong trường hợp chứng thực bản sao từ bản chính mà không có việc đối chiếu với bản chính, chúng tôi sẽ thực hiện biện pháp tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên để đảm bảo tính xác thực và độ tin cậy trong quá trình chứng thực.
- Khi chứng thực chữ ký và tại thời điểm chứng thực, người yêu cầu chứng thực không thể nhận thức và kiểm soát được hành vi của mình, chúng tôi sẽ xem xét áp dụng biện pháp tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên.
Công ty Luật Minh Khuê tự hào là người mang đến cho quý khách hàng một trải nghiệm tư vấn pháp luật độc đáo và thiết thực. Chúng tôi luôn trực tiếp tận tâm với sứ mệnh chia sẻ kiến thức chất lượng, giúp quý vị hiểu rõ hơn về các vấn đề pháp lý. Dẫn dắt bởi khát vọng ấy, nếu quý vị đang đối diện với bất kỳ khía cạnh nào của vấn đề pháp lý, hoặc cần sự tư vấn, hỗ trợ, chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và đồng hành. Đừng ngần ngại liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến, qua số hotline: 1900.6162. Để đảm bảo quý vị nhận được tư vấn chi tiết và chính xác, hãy gửi yêu cầu của mình qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Đội ngũ chuyên gia tận tâm của chúng tôi sẽ nhanh chóng phản hồi, giải đáp mọi thắc mắc một cách tận tâm và tinh tế. Chúng tôi trân trọng mọi sự hợp tác và đánh giá cao cơ hội được đồng hành cùng quý vị trên mọi bước đường pháp lý.