1.Môi trường sống và ảnh hưởng của môi trường sống đến khẩu khí

Môi trường là tất cả những gì nhìn thấy và không nhìn thấy đang tồn tại và phát triển xung quanh chúng ta, gồm môi trường xã hội và môi trường tự nhiên. Môi trường xã hội và môi trường tự nhiên đều có sự tác động trực tiếp hay gián tiếp đến cơ thể và tính cách của con người.

Câu ngạn ngữ: “Môi trường sinh tính cách” là một triết lý mang tính triết học và là một trong nhiều tiêu chí phần loại tính cách của cá nhân. Vì vậy, ngạn ngữ này mang tính biện chứng. Khẩu khí của cá nhân cũng ảnh hưởng từ môi trường sống. Môi trường sống của cá nhân có sự tác động trực tiếp đến tâm lý, ngôn ngữ, thói quen, khẩu khí của cá nhân. Một người sống ở môi trường thương mại, thì có tư duy thương mại rõ ràng hơn người sống ở môi trường nông thôn phi thương mại, vùng sâu, vùng xa có thói quen tự cung tự cấp. Người sống ở môi trường xã hội mà ở đó con người xử sự với nhau hàng ngày dựa trên yếu tố tình cảm cộ tính cách khác với người sống ở môi trường mà những người xung quanh thường xuyên mất đoàn kết, không coi trọng tình cảm.

Tuy nhiên, những nhận xét trên chỉ mang tính tương đổi, vì xã hội phát triển ngày một văn minh hơn, khoa học và cồng nghệ ngày càng phát triển, quan hệ xã hội, phạm vi hoạt động, giao tiếp của con người cũng ngày càng được mở rộng. Do đó, văn hóa vùng miền không còn khép kín như thời gian mấy chục năm trước đây. Vì vậy, một người có thể sống ở môi trường nhất định, nhưng tâm tính, quan điểm, khẩu khí của người này lại không bị ảnh hưởng bởi môi trường thường xuyên sinh sống. Bản lĩnh, trải nghiệm, nhận thức, vốn văn hóa của cá nhân nếu vững vàng, có ý thức rèn luyện và có trách nhiệm sống, có nhân cách thi cá nhân đó ít chịu sự tác động của môi trường xã hội, nơi anh ta sống. Khẩu khí cụạ cá nhân thẹo đó cũng có thể bị mội trường sống tác động hoặc không bị ậnh hưởng.

Luật sư và người làm công tác trong lĩnh vực pháp luật luôn luôn phải có ý thức để xác định tính cách, ngôn ngữ và khẩu khí của người khác và khẩu khí của mình để tự rèn luyện ngày một tốt hơn hoặc thông qua rèn luyện có ý thức, thường xuyên mà loại bỏ được những ngôn ngữ và khẩu khí không phù hợp trong tranh luận, trong giao tiếp và trong đối thoại. Người có ý thức về khẩu khí sẽ dùng khẩu khí của mình để làm nổi bật những vấn đê' mà mình tranh luận, tạo nên những điểm nhấn trong ngôn ngữ thể hiện, tạo ra tình và lý trong tranh tụng và theo đó, người làm chủ khẩu khí của mình sẽ là người luôn thành công và tránh được nhiều điều bất lợi cho bản thân khi thể hiện khẩu khí.

2. Các yếu tố như khẩu khếu, khẩu lệnh, khẩu nghiệp

 Khẩu khiếu

Khẩu khiếu chì người tài ăn nói (nói như khiếu - chim khiếu), ứng đối với người khác nhanh và kịp thời với mục đích hơn thua hoặc lấn át. Nội dung khẩu khiếu có thể phù hợp với V chủ đê' tranh luận, có thể lạc chủ đê' tranh luận có ý thức hoặc
vô thức với mục đích làm cho người đối thoại không nói được hoặc bị lúng túng hoặc nghi ngờ vào chính khả năng đặt vấn đê' hay lập luận của mình. Khẩu khiếu đôi khi có lợi cho chủ thể, đôi khi là “con dao hai lưỡi” làm hại uy tín, thanh danh hay bị người khác hiểu lầm chủ thể là kẻ hiếu thắng, thiếu chín chắn, suy nghĩ, dùng từ thiếu văn hóa, phản ánh trải nghiệm cuộc sống của chủ thể và nền tảng giáo dục hoặc lệch chuẩn của ngôn ngữ đối thoại. Người có khẩu khiếu có thể có học thức cao, trung bình hoặc thấp và nói như thói quen, như bản năng nhưng hàm lượng trí tuệ trong ngôn ngữ có thể rất mỏng hoặc không có gì, cảm xúc của người biểu hiện thường vô cảm, nói để có nói và sáo rỗng; đôi khi dùng từ sai với nội dung vấn đê' đang cần đối thoại.

Khẩu lệnh

Khẩu lệnh có ngôn ngữ ngắn gọn thường được dùng với những câu quen thuộc như khẩu lệnh trong quân đội hoặc ra mệnh lệnh để người khác phải tuân theo một động tác thống nhất trong đám đông, trong đội ngũ. Khẩu lệnh có tính chất quyền uy và có tính chất mệnh lệnh, mọi người phải tuân theo trong một thời gian và không gian nhất định. Khẩu lệnh thể hiện ngắn gọn, ai cũng có thể hiểu vì có thể khẩu lệnh được lặp đi lặp lại nhiều lần và có tính hệ thống. Khẩu lệnh là một yếu tố tác động vào bán cầu đại não của người khác và ghi nhận như một phản xạ có điều kiện. Khẩu lệnh còn được
dùng để nhận ra nhau trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định cần áp dụng khẩu lệnh để mọi người hành động theo sự chỉ đạo nào đó và giữ bí mật trong nội bộ của một tổ chức, để nhận biết cá thể khác không cùng đội ngũ với người phát ra khẩu lệnh đó.

Khẩu nghiệp

Khẩu nghiệp thể hiện người nói thiếu suy nghĩ, thiếu thận trọng khi phát ngôn làm cho người khác khó chịu hoặc vi phạm nội quy chung hoặc xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác hoặc động chạm đến người thứ ba. Khẩu nghiệp gầy ra hậu quả bất lợi cho người nói, thường gọi là “vạ miệng” hay “Ếch chết tại miệng”. Khẩu nghiệp phản ánh ý thức của người phát ngôn và có thể ghi dấu ấn trong suy nghĩ của người khác, khó phai mờ và là yếu tố tiềm ẩn dẫn đến sự bất lợi trong quan hệ xã hội và quan hệ chuyên môn, nghề nghiệp, công danh, uy tín của người có khẩu nghiệp đó.

3.Khẩu ngữ, khẩu thuyết vô bằng,khẩu thị tâm phi, khẩu trừ bút pháp

Khẩu ngữ

Khẩu ngữ thường chỉ lối văn học chủ trương dùng những câu nói “đầu lưỡi” hàng ngày thường dùng của nhân dân, là viết ra khiến cho văn học được đại chúng hóa.

Khẩu thuyết vô bằng

Khẩu thuyết vô bằng ý thể hiện lời nói miệng không có gì làm bằng cớ. Người ta hứa với nhau nhiều điều, nói một vấn đề nào đó ảnh hưởng đến nhiều người, thậm chí có cả những điều bịa đặt, nhưng không được ghi chép, và sau đó người nói ra những điểu trước đó phủ nhận mình đã nói ra những điều ấy. Khẩu thuyết vô bằng không được xem là một chứng cứ để quy trách nhiệm hoặc là căn cứ để xem xét một vần đề nhất định

Khẩu thị tâm phi

Khẩu thị tâm phi ý thể hiện: ngoài miệng thì phải, trong lòng thi trái. Loại người này thường nói một đằng, làm một nẻo, không trung thực. Bản chất của người như vậy thường rất cô đơn, thường ít có bạn bè vì ai cũng ngại, cũng sợ người có tính cách như vậy cho nên ít ai dám kết thần với người “khẩu thị tâm phi”.

Khẩu trừ bút phạt

Khẩu trừ bút phạt là cách dùng lời nói, văn tự để vạch tội ác kẻ thù.

Nói về “khẩu trừ bút phạt”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng nhiều lần khẩu khí này để thể hiện tinh thân yêu chuộng độc lập và hòa bình, chống lại chiến tranh xầm lược. Vào ngày 28/8/2019, buổi triển lãm “Chủ tịch Hồ Chí Minh: Cuộc đời và sự nghiệp từ tài liệu lưu trữ Việt Nam và quốc tể’ được tổ chức tại Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong số những tài liệu được công bố có 02 bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời Tổng thống Mỹ lúc đó là Richard Nixon ngày 25/8/1969 có tính chất “khẩu trù bút phạt”. Trong một bức thư có đoạn viết: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất yêu chuộng hòa bình, một nền hòa bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự. Nhân dân Việt Nam quyết chiến đâu đến cùng, không sỢ hy sinh gian khổ, để bảo vệ Tổ quốc và các quyền dàn tộc thiêng liêng của mình... Trong thư, Ngài bày tỏ lòng mong muốn hành động cho một nền hòa bình công bằng. Muốn vậy, Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyển tự quyết của nhân dân mỉền Nam và dân tộc Việt Nam, không có sự can thiệp của nước ngoài. Đó là cách đúng đắn để
giải quyết vấn đề Việt Nam, phù hợp vôi quyền dân tộc của nhàn dàn Việt Nam, với lợi ích của nưổc Mỹ và nguyện vọng hòa bình của nhân dân thếgiới. Đó là con đường để Mỹ rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự’.

4. Khẩu quá và khẩu chiếm 

Khẩu quá

Khẩu quá chỉ sự kiện chủ thể khi trình bày hay tranh luận một vấn đề lại dùng những từ thái quá so với phạm vi, tính chất của sự việc, sự vật. Khẩu quá phản ánh nhiều mặt phông văn hóa của chủ thể và được thể hiện theo các mức độ sau:

Mức độ thứ nhất, chủ thể biện luận, tranh luận, phát biểu có thói quen “khẩu quá”, hoặc là vốn từ vựng không đủ để diễn tả sự vật, sự việc, biểu lộ ý mình muốn thể hiện cho nên phải dủng những nhóm từ rất biền ngẫu, trực quan hoặc so sánh, lấy ví dụ không phù hợp với chủ đề mình cần phải làm rõ. Ví dụ, “cô gáỉ đẹp kia biến thành con hổ sẽ mạnh hơn!”; “chồng em ấp ủ em như đại dương ủ cát”; “con trai của tôi thông minh tuyệt vời”; “năm học thành công rực rỡ”...

Mức độ thứ hai, chủ thể hùng biện có thể có vốn sống của nhiều vùng, miền khác nhau nhưng do chủ quan mà dùng những ngôn từ không phù hợp với thực trạng, tính chất, phạm vi của sự việc, sự vật mà thường là thiếu thông tin vê' người đối diện, người nghe cho nên đã dùng từ ngữ như một thói quen cố hữu làm cho người nghe không thể tiếp thu, không thể bị khuất phục hay đồng cảm, kính nể. Khẩu khí thuộc dạng “khẩu quá” ở mức độ này có thể gây ra phản tác dụng, phản cảm và làm cho người nghe thất vọng về trình độ nhận thức, chuyên môn, phông văn hóa, vốn sống, trình độ tay nghề của chủ thể.

Mức độ thứ ba, chủ thể thiếu nhạy cảm, không xác định rõ chủ thể đang nghe mình trình bày hay tranh luận một sự vật, sự việc. Hậu quả có thể gây mất cảm tình, thiếu tin tưởng và thậm chí nghi ngờ tình cảm của chủ thể thể hiện ngôn ngữ.

Khẩu chiếm

Theo Hán - Việt từ điển, “khẩu chiếm” là ứng khẩu. Theo đó, “khẩu chiếm” là sự đối đáp nhanh, phản ứng nhanh thông qua ngôn ngữ thể hiện trước một chủ thể khác hay một sự vật, một sự việc trong một không gian và thời gian nhất định. Theo thông lệ, ứng khẩu còn là sự ứng đối nhanh trong một cuộc đối thoại, hay thể hiện cảm xúc nhanh trước một tình huống trong quan hệ xã hội hoặc trước một hiện tượng như sự vật, sự việc mà chủ thể phát biểu thành lời phù hợp với ngữ cảnh đó. Trong nhân dân, “khẩu chiếm” thường được dùng để chỉ một người ứng khẩu thành thơ hay đối đáp nhanh nhạy trong cuộc đối thoại với người khác.

Người có khả năng đối ứng thường là người có cảm xúc mạnh, nhanh nhạy, có vốn từ vựng phong phú về một lĩnh vực nhất định hoặc là người đọc nhiều, biết nhiều hoặc là người có vốn sống trải nghiệm.

Hoặc, giai thoại về Bút Tre kể rằng, vào những năm 70 của thế kỷ XX, Bút Tre công tác ở Ty Văn Hóa Vĩnh Phúc, có lần mời một nhà thơ ở Hà Nội về Vĩnh Phúc và mời đi xem vở kịch “Bến Tre đồng khởi” do một đội văn công trong tỉnh biểu diễn. Khi xem xong vở kịch, nhà thơ Hà Nội đặt ra một vế câu đối và đọc cho Nhà thơ Bút Tre nghe: “Con cháu của Bút Tre, diễn vở Bến Tre, không có gì che đành phải diễn”. Sau ít phút, Nhà thơ Bút Tre đã đối lại vế câu đối của nhà thơ Hà Nội, rất nghiêm chỉnh về liêm, luật, cú pháp và đối lại chan chát: “Các cô cùng quê cọ, tắm táp kỳ cọ, cầm cái cẳng cọ cố mà kỳ!” .

Như vậy, “khẩu chiếm” cần thiết là sự phản ứng nhanh,có nội dung phù hợp với tranh luận, đối thoại, biện luận để tự bảo vệ mình, bảo vệ người khác và cho đối phương thấy khả năng biện luận, đối thoại và chủ động trong khẩu ngữ, khẩu khí và làm nổi bật màu sắc của hình thức và nội dung tranh luận, đối thoại, phản ứng thông minh, linh hoạt, kịp thời, ngay tức khắc và không tách rời nội dung, vấn đề tranh luận, đối thoại, phản ứng.

Trong nghề luật, nhất là đối với luật sư thì khả năng ứng khẩu nhanh thật sự cần thiết. Bởi vì, có những tình huống phát sinh ngẫu nhiên, đột ngột trong quá trình tranh tụng không lường trước, không có dự liệu trước và là hiện tượng không ngờ... Vì vậy, bản lĩnh và sự trải nghiệm của luật sư là yếu tố thật cần thiết để thể hiện “khẩu chiếm” trong việc bảo vệ khách hàng của mình trong khi tranh tụng tại tòa án.

5.Khẩu đầu giao

Khẩu đầu giao ý chỉ người luôn để “bạn bè ở đầu lưỡi”. Trong một cộng đồng nhất định, có những người luôn luôn mượn danh người khác hay kể tên người khác và nói rằng người đỏ là bạn của mình. Nhưng thực chất chưa bao gĩờ họ coi nhau là bạn vì giữa họ không có bất kỳ một sự sẻ chia nào và hoàn toàn không cỏ bất kỳ một kỷ niệm nào. Có chăng chỉ là những kỷ niệm chung tiền để uống rượu bia khi cả hai đều có nhu Cầu. Sự cảm thông của họ đối với nhau hoàn toàn không có. Khi người này gập khó khăn, vướng mắc''trong quan
hệ công việc, thì không tìm thấy ở người kia một lời động viên hay cử chỉ cảm thông, an ủi nào. Thậm chí, người này còn tìm cách hạ uy tín của người kia với người thứ ba. Nhưng họ vẫn gọi nhau là bạn. Bạn trong trường hợp này là bạn “khẩu đầu giao”.

Khẩu đẩu thiển

Những tín đồ nhà phật không phải chân tu mà chỉ thuộc mấy câu kinh đầu miệng nhưng đi đâu, ở đâu cũng thể hiện mình là người am hiểu giáo lý của Phật giáo. Trong cuộc sống, nhiều người lợi dụng sự cả tin của một bộ phận trong dân cư, cộng đồng với mục đích trục lợi cho mình. Người khẩu đầu thiền là những người hoặc là khoe mẽ, hoặc là tự mê hoặc minh, mê hoặc người khác. Những người có tầm khí khẩu đẩu thiền thường có bản lĩnh không vững vàng, rất dễ bị người khác lạm dụng và thường là người đáng thương hơn đáng trách. Khẩu đầu thiền còn được hiểu theo nghĩa rộng, nhằm để chỉ những người hay nói những điểu bản thân chưa hiểu hết, nhưng ra vẻ đã hiểu sâu sắc. Tuy nhiên, trong hoàn cảrih nào đó, người khẩu đầu thiển có thể chiếm được niềm tin của người khác. Trong xã hội đương đại, có rất nhiều người có tâm khí khẩu đầu thiền, những người tùng trải và nhạy cảm trong giao tiếp, hiểu biết sâu rộng mới đánh giá được. Vì vậy, hiện tượng khẩu đầu thiền vẫn tồn tại trong xã hội khiến nhiều niềm tin bị mất, bị “đánh tráo khái niệm” về lẽ Sống, về nhìn nhận con người. Cho nên có nhiều kẻ cơ hội biết lợi dụng thực trạng của các quan hệ xã hội đương đại còn tồn tại vấn đề chưa chuẩn, lệch chuẩn của một số người có chức, có quyển để tiến thân một cách không minh bạch, không đàng hoàng.

Khẩu huệ

Khẩu huệ ý chỉ những người thể hiện ơn huệ bằng cách nói suông. Có những người hay lợi dụng người khác để đạt mục đích nào đó thường đưa ra những điều để cho người giúp đỡ tin vào một lợi ích vật chất sẽ có trong tương lai, nhưng sau khi đạt được mục đích rồi thì “lời hứa chỉ là lời hứa”. Người như vậy thường tồn tại trong xã hội và có mặt ở bất kỳ đầu. Nếu nói theo nghĩa đen thì người khẩu huệ chính là kẻ vô ơn.

Khẩu huệ như thật bất chí

Khẩu huệ như thật bất chí ý chỉ người chỉ hứa suông nhưng sự thật không có gì cả. Khẩu huệ là một bề nổi của ngôn ngữ, người nói với dụng ý để người khác chú ý đến mình và muốn mọi người coi mình là quan trọng, có trách nhiệm và lòng vị tha, thương người, là trung tâm của cộng đồng nhất định. Loại người vô cảm lại hay khoe mẽ và coi mình là quan trọng thường có “khẩu huệ như thật bất chí”, nếu có địa vị xã hội thì có thể chỉ nói suông mà không làm được điểu gì tốt đẹp cho nhân dân.

Khẩu giác

Khẩu giác ý chỉ người bẻm mép, “chọi nhau” bằng đầu lưỡi. Mục đích phát ngôn có thể không cần cảm xúc, không biểu lộ được tâm trạng mà cốt nói để có nói. Người có khẩu giác luôn nhanh nhảu và thường chưa nghĩ đã nói, nói như thói quen, như phản xạ tự vệ trong khoảnh khắc nhất định và không để lại một ý nghĩa gi cho người nghe.

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)