1. Mục tiêu của giáo dục

Về cơ bản mục tiêu của giáo dục phải hướng tới: việc phát triển đầy đủ nhân cách con người và tăng cường sự tôn trọng quyền con người và các tự do cơ bản. Theo đó, giáo dục quyền con người phải luôn gắn với giáo dục nhân cách, giáo dục đạo đức, lối sống cũng như mọi mặt của việc nâng cao hiểu biết cho người dân về những giá trị quyền con người được bảo đảm và bảo vệ. Mọi người phải nhận thức được những quyền con người mà mình được bảo vệ tránh sự xâm phạm từ phía quyền lực công và các chủ thể khác cũng như phải tôn trọng quyền của những chủ thể còn lại trong xã hội.

Từ đó, mục tiêu trước hết của giáo dục quyền con người đối với mọi tầng lớp nhân dân là nâng cao sự tôn trọng và lòng tự tin của người dân về các quyền cơ bản mà họ được hưởng.

2. Làm gì để có được sự tôn trọng quyền con người?

Sự tôn trọng quyền con người có được khi mọi chủ thể đều nhận thức được vai trò của quyền con người trong việc đảm bảo chính quyền lợi của mình. Tôn trọng quyền con người của các chủ thể khác không những góp phần đảm bảo thực hiện quyền của chính chủ thể đó mà còn là một nghĩa vụ phải tôn trọng của mỗi công dân trong việc thực thi pháp luật ở nghĩa pháp luật là đạo đức tối thiểu. Văn hoá cộng đồng bắt nguồn từ mỗi cá nhân. Trong một cộng đồng mà mỗi cá nhân nhận thức được các giá trị nhân bản của quyền con người, tức ở đó tôn trọng quyền con người đã trở thành văn hóa, giá trị sống của cộng đồng. Chính sự tôn trọng quyền con người của mỗi cá nhân đã góp phần xây dựng cộng đồng, cũng như hình thành một nền văn hoá tôn trọng và đề cao phẩm giá con người. Giáo dục quyền con người không chỉ dừng lại ỏ việc hình thành nhận thức đúng đắn về quyền con người cho người dân. Giáo dục quyền con người còn là nhân tố giúp tăng cường sự tôn trọng nhân phẩm con người đối với mỗi thành viên trong cộng đồng. Là nhân tố quan trọng góp phần hòa giải các xung đột xã hội, xây dựng hoà bình và ổn định xã hội.

3. Sự tự tin của công dân trước những yếu tố mang quyền lực nhà nước

Như chúng ta đã biết, văn hoá Việt Nam - một nền văn hoá phương Đông còn đậm chất Nho giáo vối nhiều quan niệm mang tính hủ tục vẫn còn in sâu trong nếp nghĩ của các tầng lớp nhân dân. Tâm lý nhu nhược trước quyền lực nhà nước hay chính xác hơn là sợ sệt trước quyền lực nhà nước của người dân vẫn còn mang tính phổ biến. Những quan niệm như quan phụ mẫu quan là cha mẹ của nhân dân, hay miệng nhà quan có gang có thép, con kiến mà kiện củ khoai, vô phúc đáo tụng đình tất cả những tư tưởng đó đã ăn sâu vào tâm thức của người dân Việt mà cho tối ngày nay vẫn luôn là một rào cản lớn cho việc bảo đảm quyền con người. Người dân vẫn còn quen với việc khép mình trước quyền lực nhà nước. Mà quên đi rằng lý do cơ bản của sự ra đời và tồn tại của Nhà nước đó là nhằm mục đích quản lý xã hội, phục vụ nhân dân. Cùng với sự phát triển của đất nước, trình độ nhận thức của người dân được nâng cao thế nhưng tâm lý e ngại trước quyền lực nhà nước vân là một thực tế của xã hội Việt Nam ngày nay. Hay nói khác đi, tuy nhận thức của người dân được nâng cao nhưng vẫn luôn thiếu tự tin trong mối quan hệ với quyền lực nhà nước. Chính điều này đã tạo nên rào cản trong việc người dân tự bảo vệ quyền lợi của mình. Những quyền của người làm chủ đất nước nhưng đã quên mất vị trí chủ nhân của mình, vẫn còn đâu đó phảng phất dấu ấn của một nền văn hoá của xã hội thần dân.

Để bảo đảm quyền con người, khi đặt người dân trong mối quan hệ với quyền lực nhà nước trong sự so sánh với cán bộ, công chức nhà nước - những người thực thi quyền lực nhà nước, cần thiết phải xây dựng được cơ chế bình đẳng. Phải nâng cao khả năng tự bảo vệ quyền cho người dân bên cạnh việc nâng cao sự tôn trọng quyền của nhân dân trong cán bộ, công chức. Điều này chỉ có thể thực hiện được thông qua giáo dục quyền con người. Tăng cường giáo dục quyền con người giúp mỗi người dân nhận thức sâu sắc quyền của mình, vị trí của mình trong mối quan hệ với quyền lực nhà nước. Chỉ khi người dân thực sự tự tin trong tiếp xúc với quyền lực nhà nước, lúc đó, quyển con người mối được đảm bảo một cách hiệu quả.

Với mục tiêu đã đặt ra, giáo dục quyền con người phải được thiết kế những nội dung phù hợp. Nội dung của giáo dục quyền con người bao hàm hai yếu tố, tri thức nhân quyền và kỹ năng thực hành nhân quyền.

4. Tri thức nhân quyền

Tri thức nhân quyển cần được truyền tải phải gắn liền với hai yếu tố là đối tượng giáo dục và mục tiêu giáo dục chính vì thế những nội dung giáo dục phải mang tính phù hợp với những đặc điểm của chủ thể giáo dục và mục tiêu hướng tới. Trong đó mục đích có tính chi phối rất lớn tới nội dung của hoạt động giáo dục. Giáo dục quyền con người cho mọi tầng lớp nhân dân ở Việt Nam hiện nay phải đảm bảo các nội dung sau:

Thứ nhất, nội dung giáo dục quyền con người phải gắn liền với văn hoá dân tộc. Trước tiên phải khẳng định rằng, những giá trị về quyền con người luôn gắn liền với yếu tố văn hóa. Trong hệ giá trị của mỗi nền văn hoá đều chứa đựng những yếu tố về quyền con người, tôn trọng phẩm giá con người. Trong văn hoá truyền thống của dân tộc ta, giá trị nhân bản luôn là một phần cốt lõi. Điều này được lưu dấu rất đậm nét trong văn học dân gian như “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”, “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng” hay “đánh kẻ chạy đi không ai đánh kẻ chạy lại”... Khai thác những nét đẹp đầy chất nhân văn của truyền thông văn hoá dân tộc để khơi gợi tình người trong xã hội là một nội dung quan trọng cần phải được lồng ghép trong nội dung giáo dục quyền con người cho mọi tầng lớp nhân dân.

Thứ hai, nội dung giáo dục quyền con người phải đề cao giá trị công bằng và không phân biệt đối xử, xóa bỏ định kiến xã hội.

Bên cạnh những nét văn hoá cao đẹp thì trong xã hội Việt Nam truyền thống, những định kiến xã hội chính là yếu tố tệ hại có thể loại bỏ một con người ra khỏi cộng đồng. Đặc biệt là sự gắn bó khăng khít của các cộng đồng người theo văn hoá làng xã thì những yếu tố định kiến, phân biệt đối xử lại càng trở thành những công cụ hữu hiệu giết chết quyền con người. Những hình phạt hà khắc dành cho những phụ nữ không có chồng mà trót có con, hoặc một con người luôn bị phân biệt bởi nguồn gốc xuất thân thấp kém trong xã hội... Chính sự phân biệt đối xử ấy đã cướp đi cái quyền được phát triển bình đẳng của con người. Họ không được người khác tôn trọng, không được tham gia các công việc chung của cộng đồng, bị hạn chế quyền lựa chọn trong hôn nhân thậm chí còn bị tước đi quyền sống... Cộng đồng có một vai trò quan trọng trong đời sống dân gian của người Việt trong đó có nhiều giá trị vẫn tồn tại và được bảo tồn. Bên cạnh những mặt tốt đẹp thì nó cũng tiềm ẩn nguy cơ của sự phân biệt, kỳ thị tạo nên sự hạn chế quyền con người đối với một số chủ thể đặc biệt là các đối tượng dễ bị tổn thương như: người bị lây nhiễm HIV, phụ nữ lầm lạc trong quá trình phục hồi nhân phẩm, người mãn hạn tù, người hoàn tất thời gian cai nghiện bắt buộc trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng. Để bảo đảm quyền con người cho những đối tượng này, một nội dung quan trọng mà giáo dục quyền con người cần đạt đến đó chính là xóa bỏ sự kỳ thị xã hội, sự phân biệt đối xử của cộng đồng đối với các cá nhân, giúp cộng đồng nhận thức được ý nghĩa của sự bao dung góp phần cứu giúp những cuộc đời bất hạnh, góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

5. Kỹ năng thực hành quyền con người

Kỹ năng thực hành quyền con người đối với mọi tầng lớp nhân dân tức là các bước của hoạt động thực hành quyền con người, những nội dung gắn với việc thực hành quyền con người trên thực tế. Bao gồm hai nội dung cơ bản là thông tin về quyền con người và hướng dẫn kỹ năng thực hành quyền con người.

Thứ nhất, thông tin về những quyền con người và tự do cơ bản được Nhà nước công nhận và bảo vệ. Đây là bước căn bản đầu tiên cần phải tiến hành trong quá trình tác động định hướng nâng cao nhận thức về quyền con người. Người dân phải được biết những giá trị quyền con người được công nhận và bảo vệ mà cụ thể hơn là những quyền cơ bản phục vụ cho cá nhân mỗi người dân. Hoạt động này cần thiết phải được tiến hành cùng với hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Bởi những nội dung của nó chính là các quyền công dân đã được Nhà nước công nhận (theo nghĩa hẹp của những quyền con người gắn liền với quyền công dân). Việc nắm bắt một cách đầy đủ những quyền và nghĩa vụ của mình trong việc bảo đảm quyền con người là tiền đề quan trọng cho việc biến những quyển tiềm năng ây thành hiện thực khi người dân sử dụng chúng trong đời sống.

Thứ hai, hướng dẫn, xây dựng kỹ năng thực hành quyền con người. Điểm then chốt nhất của giáo dục quyền con người cho mọi tầng lớp nhân dân đó là phải đĩ sâu vào việc truyền đạt những kỹ năng, cách thức thực hành quyền và bảo vệ quyền. Việc truyền đạt phải hướng tối hai nội dung: thứ nhất, truyền đạt kỹ năng thực hành quyền và thứ hai là, kỹ năng bảo vệ quyền.

Người dân phải được hướng dẫn về các thủ tục cần thiết để được hưởng những quyền và tự do cơ bản của bản thân. Các kỹ năng này bao gồm những kỹ năng cứng và kỹ năng mềm. Kỹ năng cứng gắn liền với cơ chế pháp lý, các quy định về thủ tục do Nhà nước đặt ra. Kỹ năng mềm là những kỹ năng xã hội, là chất “bôi trơn” khiến cho quyền con người được vận hành một cách đúng đắn. Thực tiễn cho thấy, hiện nay người dân đang thực sự thiếu kỹ năng mềm.

Giáo dục quyền con người cũng cần phải hướng dẫn cho mỗi cá nhân các biện pháp bảo vệ mình nhằm chống lại các hành vi vi phạm quyền con người. Tương tự trong kỹ năng bảo vệ quyền cũng bao gồm hai loại kỹ năng, kỹ năng cứng và kỹ năng mềm. Kỹ năng cứng gắn liền với những hình thức pháp lý bảo vệ quyền như khiếu nại, tố cáo, khởi kiện Trong nội dung này, mỗi người dân phải được hướng dẫn các thủ tục pháp lý cần thiết nhằm bảo vệ mình chống lại sự xâm phạm của các chủ thể khác trong xã hội nếu có.

Bên cạnh đó, người dân cũng cần phải được hướng dẫn cách tiếp cận với các địa chỉ hỗ trợ. Đó là các tổ chức xã hội, tổ chức chính trị xã hội hoạt động nhằm giúp người dân giải quyết những tình huống có thể xảy ra trong quá trình thực hành quyền con người của mình.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)