1. Khu vực khai thác khoáng sản là gì?

Khu vực đào tạo và khai thác tài nguyên khoáng sản được định nghĩa trong mục 2, Điều 3 của Nghị định 36/2020/NĐ-CP như sau:

Đó là không gian địa lý giới hạn bởi biên giới cuối cùng của quá trình khai thác tài nguyên khoáng sản, được xác định trong Dự án đầu tư hoặc Báo cáo kinh tế kỹ thuật về việc khai thác tài nguyên khoáng sản, đồng thời phải tuân thủ quy định về trữ lượng khoáng sản được phép sử dụng trong quá trình kế hoạch thiết kế khai thác. Nó cũng bao gồm các giới hạn về tọa độ địa lý, diện tích, và độ sâu, như được quy định trong Giấy phép khai thác tài nguyên khoáng sản.

 

2. Phá hủy công trình bảo vệ môi trường ở khu vực khai thác khoáng sản?

Xử lý hủy hoại cơ sở hạ tầng bảo vệ môi trường trong khu vực khai thác khoáng sản sau khi giấy phép khai thác khoáng sản đã hết hiệu lực sẽ chịu xử phạt theo quy định tại khoản 5 của Điều 49 Nghị định 36/2020/NĐ-CP như sau:

Cụ thể, hành vi tháo dỡ hoặc phá hủy các công trình, thiết bị đảm bảo an toàn mỏ và bảo vệ môi trường trong khu vực khai thác khoáng sản sau khi giấy phép khai thác khoáng sản đã chấm dứt hiệu lực sẽ bị xử phạt mức tiền từ 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng đối với cá nhân.

Thêm vào đó, theo khoản 1 của Điều 5 Nghị định 36/2020/NĐ-CP, được sửa đổi và bổ sung bởi khoản 3 của Điều 2 Nghị định 04/2022/NĐ-CP, các mức xử phạt tiền đối với vi phạm hành chính theo Chương II và Chương III của Nghị định này được áp dụng theo các quy định sau:

- Đối với cá nhân, mức xử phạt tiền áp dụng như mức xử phạt tiền đối với cá nhân.

- Đối với hộ kinh doanh, chi nhánh, văn phòng đại diện thực hiện hành vi vi phạm hành chính không thuộc phạm vi, thời hạn được doanh nghiệp ủy quyền áp dụng như đối với mức xử phạt của cá nhân.

- Đối với tổ chức (bao gồm chi nhánh, văn phòng đại diện thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong phạm vi và thời hạn được ủy quyền của doanh nghiệp), mức xử phạt tiền gấp đôi mức xử phạt tiền đối với cá nhân.

Ngoài ra, thẩm quyền xử phạt tiền của những cơ quan được quy định tại các Điều 63, 64, 65, 66, 67 và Điều 68 của Nghị định này là thẩm quyền xử phạt tiền mức tối đa áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân; đối với tổ chức, thẩm quyền xử phạt tiền mức tối đa gấp đôi thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân.

Trong trường hợp khai thác khoáng sản không có giấy phép thuộc hành lang bảo vệ công trình kết cấu hạ tầng, ngoài việc áp dụng mức xử phạt theo quy định của Nghị định này, còn xem xét việc áp dụng xử phạt theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

 

3. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với người phá hủy công trình bảo vệ môi trường ở khu vực khai thác khoáng sản

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân hoặc tổ chức phá hủy công trình bảo vệ môi trường trong khu vực khai thác khoáng sản sau khi giấy phép khai thác khoáng sản đã chấm dứt hiệu lực được quy định theo Điều 5b của Nghị định 36/2020/NĐ-CP, được bổ sung bởi khoản 3 của Điều 2 Nghị định 04/2022/NĐ-CP như sau:

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính và thời điểm tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực khoáng sản được xác định như sau:

- Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoáng sản là 02 năm.

- Các hành vi vi phạm được xác định là đã kết thúc và thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm như sau:

+ Hành vi không thông báo về kế hoạch thăm dò quy định tại khoản 1 Điều 31;

+ Không thông báo hoặc không đăng ký ngày bắt đầu xây dựng cơ bản mỏ hoặc ngày bắt đầu khai thác;

+ Hành vi liên quan đến thăm dò nâng cấp trữ lượng, tài nguyên quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 36;

+ Không thông báo kế hoạch quy định tại khoản 5 Điều 36;

+ Không gửi báo cáo cho cơ quan có thẩm quyền cấp phép khai thác nếu tạm ngừng khai thác từ 01 năm trở lên;

+ Không đăng ký hoạt động điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản quy định tại khoản 1 Điều 53.

Thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm là thời điểm bắt đầu thực hiện điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, thăm dò, thăm dò nâng cấp, xây dựng cơ bản, khai thác hoặc tiếp tục khai thác trở lại.

Có thể thấy, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với người phá hủy công trình bảo vệ môi trường ở khu vực khai thác khoáng sản khi giấy phép khai thác khoáng sản đã chấm dứt hiệu lực sẽ là 02 năm.

 

4. Những hệ lụy ô nhiễm môi trường từ hoạt động khai thác khoáng sản

Việt Nam hiện đang đối mặt với hơn 5.000 điểm mỏ, điều này bao gồm khoảng 60 loại khoáng sản khác nhau và được thực hiện bởi 1.100 doanh nghiệp khai khoáng. Ngành khai thác khoáng sản đang chơi một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, các hoạt động khai thác này đồng thời đã và đang gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với môi trường xung quanh.

Theo báo cáo của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, tình trạng khai thác trái phép cát, sỏi dọc theo sông Hồng sử dụng các phương tiện như tàu cuốc, xe múc, máy nổ đã gây nên nhiều vấn đề, bao gồm việc hủy hoại môi trường sinh thái, sạt lở đất, thay đổi dòng chảy sông và làm biến đổi chất lượng nước sông.

Ngoài ra, hoạt động khai thác khoáng sản mở rộng ra khỏi khu vực nông thôn, đặc biệt là ở vùng đầu nguồn, đã dẫn đến việc thải các chất gây ô nhiễm qua dòng chảy mặt hoặc phát tán qua môi trường không khí, ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nông thôn. Điển hình là khai thác mỏ than lộ thiên, nơi việc bốc xúc đất đá thải lớn đã gây sạt lở, xói mòn ruộng đất và khe suối.

Trong lĩnh vực khai thác vàng, nhiều nhà máy không có hệ thống xử lý nước thải, dẫn đến việc nước thải chứa đựng các chất hóa học độc hại như xianua và thủy ngân, gây ô nhiễm nghiêm trọng cho nguồn nước. Ví dụ, Công ty TNHH Bồng Miêu đã xả thải không qua xử lý, gây cá chết tại Suối Lò (Tam Lãnh - Phú Ninh), còn Nhà máy tuyển luyện vàng Đắksa của Công ty TNHH vàng Phước Sơn tràn bã quặng, nước thải trực tiếp vào môi trường.

Khai thác khoáng sản cũng gây ảnh hưởng đến mực nước ngầm, bao gồm cả việc hạ thấp mực nước ngầm của những vùng lân cận và thay đổi hướng chảy trong túi nước ngầm. Túi nước ngầm nằm dưới vùng khai mỏ thường bị ô nhiễm do nước bị ô nhiễm ở tầng mặt ngấm xuống. Điều này đã diễn ra ở nhiều khu mỏ khai thác quặng sắt, đá quý, kaolin và felspat ở tỉnh Yên Bái.

Không chỉ vậy, hoạt động vận chuyển khoáng sản cũng gây tác động xấu đến môi trường không khí do sự phát tán khói và bụi trong quá trình vận chuyển và bốc dỡ.

Theo Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, trong những năm gần đây, có một sự gia tăng đột ngột trong việc đầu tư và xây dựng các dự án thủy điện, dẫn đến việc hình thành một mạng lưới thủy điện dày đặc. Điều này đã tác động tiêu cực đến diện tích rừng phòng hộ ở khu vực đầu nguồn, làm giảm đa dạng sinh học và thay đổi cấu trúc hệ sinh thái ở những vùng có các công trình thủy điện, đặc biệt là ở vùng nông thôn.

Ngoài ra, các hoạt động sản xuất công nghiệp địa phương, như việc sản xuất gạch ngói, cũng đóng góp vào vấn đề ô nhiễm môi trường ở nông thôn. Hiện tượng nông dân bán đất ruộng cho các doanh nghiệp lò gạch ngói vẫn diễn ra phổ biến ở nhiều địa phương thuộc các vùng Đông Bắc, Trung Bộ, Tây Nguyên và một số tỉnh Tây Bắc.

Khí thải từ các lò gạch chứa nhiều loại khí độc hại, đặc biệt là khí SO2, gây ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của cộng đồng, cũng như ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và sinh sản của loài hoa màu trong khu vực xung quanh. Các chất thải rắn như tro và vụn gạch ngói cũng tạo ra ô nhiễm môi trường trong quá trình vận chuyển và xử lý.

Bài viết liên quan: Hướng dẫn nội dung cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng thông qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!