1. Phạm tội giết người thì sẽ bị xử phạt sao?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tòa án có phải gửi quyết định ra hạn thời hạn chuẩn bị xét xử trong vòng bao nhiêu ngày ? Quy định tại đâu ạ ? Cảm ơn!

Trả lời:

Căn cứ theo Điều quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Điều 462. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm

1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công xét xử ra một trong các quyết định:

a) Đưa vụ án ra xét xử;

b) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;

c) Tạm đình chỉ vụ án;

d) Đình chỉ vụ án.

2. Trường hợp quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án.

3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi quyết định đó cho Viện kiểm sát cùng cấp; giao cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo; gửi cho người bào chữa, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ.

Tiểu mục 1.2 và 1.3 mục 1 Phần I Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba "Xét xử sơ thẩm" quy định:

“Điều 176 của Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử; do đó, các thời hạn quy định trong Điều này đều được tính trong thời hạn chuẩn bị xét xử. Tuỳ từng trường hợp cụ thể thời hạn chuẩn bị xét xử được tính như sau:

1.2.1. Trường hợp Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà ra quyết định đưa vụ án ra xét xử

a) Nếu không phải gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, thì thời hạn chuẩn bị xét xử kể từ ngày Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà nhận hồ sơ vụ án tối đa là:

a.1. Bốn mươi lăm ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

a.2. Hai tháng đối với tội phạm nghiêm trọng;

a.3. Hai tháng mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

a.4. Ba tháng mười lăm ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

b) Nếu phải gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, thì thời hạn chuẩn bị xét xử kể từ ngày Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà nhận hồ sơ vụ án tối đa là:

b.1. Hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

b.2. Hai tháng mười lăm ngày đối với tội phạm nghiêm trọng;

b.3. Ba tháng mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

b.4. Bốn tháng mười lăm ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

c) Trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm a và b trên đây mà phiên toà không mở được trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử vì có lý do chính đáng, thì thời hạn chuẩn bị xét xử đối với từng trường hợp được cộng thêm tối đa là mười lăm ngày nữa.

1.2.2. Trường hợp Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án

Trong trường hợp Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử kết thúc vào ngày ra quyết định. Đối với trường hợp ra quyết định tạm đình chỉ vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được bắt đầu tính lại, kể từ ngày Toà án tiếp tục giải quyết vụ án khi lý do tạm đình chỉ không còn.

2. Tình huống luật hình sự: Tội giết người?

Thưa luật sư! Mong luật sư tư vấn giúp tôi tình huống này: Nguyễn Tất Thắng, (22 tuổi, trú huyện Khoái Châu, Hưng Yên) là tài xế xe tải, có xích mích với phụ lái là Lê Văn Toán (37 tuổi, cùng quê). Ngày 26/10/2019, khi xe đến địa phận Thanh Hóa thì giữa Thắng và Toán xảy ra cãi nhau gay gắt.

Thắng đuổi Toán xuống khỏi xe, Toán đuổi theo và bám vào cửa xe( phía bên Thắng đang cầm lái). Thắng xô mạnh cửa xe làm Toán bị ngã xuống đường, Toán bị xe cán qua người. Chạy thêm chừng 300m, Thắng bỏ xe, chạy trốn. Toán bị dập nát hai chân và chết. Tội phạm mà Thắng đã thực hiện được quy định tại khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự. Câu hỏi:

1. Cấu thành tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 93 là cấu thành tội phạm cơ bản, tăng nặng hay giảm nhẹ? Tại sao?

2. Lỗi của Thắng trong trường hợp này là gì? Tại sao?

3. Phát biểu sau về vụ án đúng hay sai? Hãy giải thích: Nếu Thắng không bỏ trốn mà đến ngay cơ quan công an gần nhất để khái báo thì sẽ được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

4. Giả sử Thắng đã phạm tội cố ý gây thương tích, bị phạt 2 năm tù cho hưởng án treo và thời gian thử thách là 4 năm. Sau khi chấp hành được 3 năm thử thách, Thắng phạm tội giết người nêu trên và bị phạt 10 năm tù thì hình phạt đối với Thắng được quyết định như thế nào?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

>>Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 123 Bộ luật hình sự 2015 quy định:

Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

......

2. Lỗi của Thắng trong trường hợp này là gì? Tại sao?

Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả của hành vi đó gây ra, được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý.

Lỗi của Thắng trong trường hợp này là lỗi cố ý mà cụ thể là lỗi cố ý gián tiếp.

Vì:

" Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra".

Xét dấu hiệu về mặt lý trí, người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, thấy trước hành vi đó có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Trong trường hợp này khi anh Thắng đuổi anh Toán xuống khỏi xe, anh Toán đuổi theo và bám vào cửa xe phía anh Thắng đang ngồi lái, anh Thắng hoàn toàn đủ năng lực để nhận thức được rằng việc mình đẩy cửa xe ra lúc đó là việc làm nguy hiểm vì lúc đó xe đang chạy. Anh Thắng cũng hoàn toàn đủ khả năng để dừng xe lại giải quyết với anh Thắng mà không để lại hậu quả như trên.

Xét về mặt ý chí, người phạm tội không mong muốn hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra. Hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà người phạm tội đã thấy trước không phù hợp với mục đích của người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là nhằm mục đích khác. Chính vì để thực hiện mục đích này mà người phạm tội dù không mong muốn hậu quả nguy hiểm mà họ có thể thấy trước nhưng đã ý thức đẻ mặc cho hậu quả đó xảy ra, Đối với người cố ý gián tiếp thì dù hậu quả có xảy ra hay không thì đều không đều không có ý nghĩa gì, không xảy ra cũng được và xảy ra cũng chấp nhận. Trong trường hợp này anh Thắng không muốn hâu quả là anh Toán chết xảy ra, mà chỉ là do trong lúc tức, xích mích với anh Toán nên anh Thắng mới đẩy cửa xe như vậy. Mặc dù biết việc mình làm có thể nguy hiểm cho anh Toán. Nhưng việc anh Toán chết nằm ngoài mong muốn và mục đích của anh Thắng.

Từ những phân tích về mặt lý trí và ý chí ta kết luận hình thức lỗi của Thắng trong tình huống trên là lỗi cố ý gián tiếp.

3. Dùng ma túy đá rồi giết người

Kính chào công ty luật Minh Khuê, thưa luật sư hiện nay tôi đang có một vài thắc mắc mong luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi có một người em tên là Nguyễn A. A là người ham chơi, đua đòi theo bạn bè, gần đây gia đình tôi phát hiện A có sử dụng chất gây nghiện ( bồ đà, cỏ) và gia đình đã khuyên can vì mật độ chưa lớn.

Gia đình đã âm thầm ghi âm các cuộc gọi của A và biết A mấy ngày trước, gia đình phát hiện A có một cuộc điện thoại với người nào đó hỏi A là : anh A mua giúp em 100 nghìn cỏ. A nói có và vài phút sau A điện thoại lại cho người mua nói. kiếm thêm 50 nghìn nữa anh có 50 nghìn mua 200 trăm cho nhiều. gia đình đã đem đoạn băng ghi âm nói trên gửi cho Công an huyện. mục đích để gọi hỏi răn đe A nhằm giáo dục. khoản 15 ngày sau có 2 anh công an lên nhà gặp A. và ghi biên bản gì đó gia đình không rõ. 20 ngày sau được sự khuyên can của gia đình A đi vào trong Nam làm ăn, để cách ly với bạn bè. cứ tưởng mọi việc êm qua ai ngờ. thứ sáu mới đây có giấy triệu tập A về viện kiểm sát gặp kiểm sát viên để làm rõ việc A và B cùng nhau mua bán trái phép ma túy đá

Để làm rõ việc "Mua bán trái phép chất ma túy", Luạt sư cho tôi hỏi về tội danh này và mức mà em tôi phải chịu là gì? thời gian tạm giữ là bao nhiêu? tạm giam là bao nhiêu và mức án em tôi phải chịu là bao nhiêu năm tù? em tôi 23 tuổi.

Em xin chân thành cám ơn!

>> Luật sư tư vấn về hành vi mua bán ma túy trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

1. Tội mua bán trái phép chất ma túy:

Căn cứ theo Điều 251 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 thì tội này có nội dung cụ thể như sau:

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Mua bán với 02 người trở lên;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho người dưới 16 tuổi;
Theo đó, dấu hiệu pháp lý của tội danh này là:
- Khách thể: Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Đối tượng tác động của tội này là các chất ma túy.
- Chủ thể: Chủ thể của các tội phạm nêu trên là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.
- Mặt khách quan: Người phạm tội thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác.; Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác… Điều này có nghĩa là cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy bắt buộc phải có mục đích mua bán, nếu chỉ có hành vi tàng trữ, vận chuyển thì không cấu thành tội danh này.
- Mặt chủ quan: Tội phạm thực hiện với lỗi cố ý.

2. Tạm giữ và thời hạn tạm giữ

- Tạm giữ khi nào?

Theo Bộ Luật tố tụng hình sự 2015 thì tạm giữ có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã. Những người có thẩm quyền ra lệnh giữ người quy định tại khoản 2 Điều 110 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có quyền ra quyết định tạm giữ. Quyết định tạm giữ phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị tạm giữ, lý do tạm giữ, giờ, ngày bắt đầu và giờ, ngày hết thời hạn tạm giữ và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Quyết định tạm giữ phải giao cho người bị tạm giữ. Người thi hành quyết định tạm giữ phải thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ quy định tại Điều 59 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải gửi quyết định tạm giữ kèm theo các tài liệu làm căn cứ tạm giữ cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền. Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

- Thời hạn tạm giữ là bao lâu?

Theo Luật tố tụng hình sự 2015 thì thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ, người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ người phạm tội tự thú, đầu thú. Trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 03 ngày.Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận hồ sơ đề nghị gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.
Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ; trường hợp đã gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ. Thời gian tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam. Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam.

=> Tóm lại, hay nói cách khác là trong trường hợp này, nếu em bạn bị bắt quả tang hoặc bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, tự thú, đầu thú hoặc bị truy nã thì có thể sẽ bị tạm giữ, thời hạn tạm giữ ban đầu là ba ngày, nếu trong trường hợp cần thiết có thể kéo dài thêm không quá ba ngày và có thể kéo dài thêm ba ngày nữa, đồng thời, khi gia hạn thì phải có văn bản gia hạn tạm giữ và phải được phê chuẩn từ Viện kiểm sát. Đồng thời, biện pháp tạm giam được áp dụng đối với những trường hợp như đã nêu ở trên đây, bạn có thể tìm hiểu và đưa ra kết luận cho bản thân.

4. Tội giết người do vựơt quá giới hạn PVCĐ

Thưa luật sư, xin hỏi: Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo quy định của Bộ Luật hình sự có đặc điểm pháp lý như thế nào? Bị xử phạt ra sao ? Cảm ơn!

Trả lời:

Điều quy định:

Điều 126. Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội

1. Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng khác tội giết người ở chỗ: nạn nhân phải là người đang có hành vi xâm phạm lợi ích hợp pháp; hành vi xâm phạm của nạn nhân phải đang diễn ra; người bị hại của tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là người đang có hành vi xâm phạm lợi ích hợp pháp , hành vi phòng vệ dẫn đến chết người rõ ràng vượt quá mức độ cần thiết. Như vậy, Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là trường hợp người phòng vệ đáp ứng ba điều kiện đầu tiên của phòng vệ nhưng điều kiện thứ tư thể hiện ở việc gây thiệt hại chết người rõ ràng là quá đáng. Để đánh giá mức độ vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải căn cứ vào tương quan lực lượng giữa các bên, căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể khi tội phạm xảy ra. Tội giết người đòi hỏi phải có thiệt hại chết người xảy ra thì tội phạm mới được coi là hoàn thành.

Mặt chủ quan: tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý. Mục đích của người phạm tội là bảo vệ lợi ích hợp pháp, vì vậy họ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Chủ thể của tội này là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ 16 tuổi.

5. Đánh người gây thương tích

Chào luật sư, cho tôi hỏi về hành vi đánh người khác gây thương tích bị truy cứu về tội phạm thế nào, cụ thể như sau: Trong quá trình làm việc tại công ty, tôi và một đồng nghiệp có xảy ra tranh cãi vì vấn đề công việc. Sau đó khi tôi về nhà, thì đồng nghiệp của tôi kéo rất đông người đến đánh tôi, xé tan quần áo tôi đang mặc trên người.

Vậy xin hỏi họ kéo đến đánh tôi như vậy họ đã mắc vào tội gì, khung hình phạt như thế nào, tôi có được bồi thường gì không. Và nếu chỉ giải quyết ở cấp xã thì thẩm quyền cấp xã được xử phạt thế nào? Trưởng công an xã nói với tôi là ở cấp xã chỉ phạt hành chính tối đa là 2 triệu đồng đúng hay sai?Nếu đúng thì mức xử phạt đó là tổng khung hình phạt hay là từng tội danh. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Trả lời

Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác như sau:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;…”

Như vậy, nếu tỷ lệ thương tích của bạn trong trường hợp này từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng bên gây thiệt hại thuộc vào các trường hợp quy định tại Khoản 1 ĐIều 134 đã nêu trên thì có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ.

Nếu tỷ lệ thương tích của bạn dưới 11% và không thuộc vào các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 134 đã nêu trên thì hành vi này của đồng nghiệp bạn sẽ bị xử lý vi phạm hành chính.

ĐIểm e Khoản 3 ĐIều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm về trật tự công cộng như sau:

“3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:…

e) Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác; …”

Như vậy, nếu hành vi của đồng nghiệp bạn không đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì sẽ bị xử phạt hành chính với mức phạt từ 2.000.000 đến 3.000.000 đồng.

Thứ hai, về bồi thường thiệt hại

Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 quy định về bồi thượng thiệt hại do sứa khỏe bị xâm hại như sau:

“1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”

Như vậy, phía đồng nghiệp của bạn có hành vi gây thiệt hại đến sức khỏe của bạn thì tùy mức độ, bạn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại căn cứ vào quy định đã nêu trên.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: [email protected] để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê